Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

CHUỖI GIÁ TRỊ RAU AN TOÀN THÀNH PHỐ HCM


I. GIỚI THIỆU CHUNG
Rau là một loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người. Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm để đảm bảo sức khỏe người dân đang được đặt ra ngày càng nóng bỏng, trong đó nhu cầu về rau xanh đạt tiêu chuẩn an toàn ngày càng tăng, nhất là tại các thành phố lớn, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh.
Ngay từ những năm 1996 – 1997, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương đầu tiên trong cả nước đã triển khai chương trình sản xuất rau an toàn. Thành phố đã tiến hành qui hoạch và từng bước xây dựng vùng sản xuất rau an toàn ở các quận, huyện, nhất là ở ngoại thành. Việc canh tác rau ở ngoại thành gắn liền với quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và quá trình đô thị hóa ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh.
Nhìn chung các cấp chính quyền cũng như các cơ quan ở địa phương cũng đã quan tâm rất nhiều đến chương trình sản xuất rau an toàn tại thành phố. Chương trình sản xuất rau an toàn ở thành phố Hồ Chí Minh cũng đang được tiến hành với nhiều hình thức, từ việc tập huấn, tuyên truyền các vấn đề an toàn trên rau, lấy mẫu xét nghiệm để xác định vùng đất có thể trồng rau, hỗ trợ nông dân thực hiện trồng rau an toàn trong các nhà lưới…
Tuy nhiên, việc sản xuất rau an toàn hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn tồn tại một số những khó khăn nhất định như thực hiện quy hoạch diện tích trồng rau an toàn trên toàn thành phố; nâng cao sản lượng rau an toàn lên gấp đôi hiện nay nhằm chu cấp đạt khoảng 70% nhu cầu rau xanh của thành phố; sự liên hệ giữa các mẫu chốt trong chuỗi hệ thống giá trị từ người nông dân cho đến thương lái, nhà bán sỉ/lẻ, siêu thị v.v. từ công tác thu hoạch, đóng gói, bảo quản, nhãn hiệu và vận chuyển đến việc tăng cừơng sự nhận biết sản phẩm rau an toàn và sử dụng trong người tiêu dùng vẫn còn yếu kém.
Trong khuôn khổ chương này, chúng tôi muốn tìm hiểu tình hình rau an toàn thành phố HCM và tiến hành phân tích chuỗi giá trị của rau an toàn tp HCM, trên cơ sở đó đưa ra được những kiến nghị cho việc tổ chức, đào tạo cũng như hỗ trợ các thành phần tham gia chuỗi giá trị này được hiệu quả.

II. THÔNG TIN CHUNG VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ RAU AN TOÀN
1.      Thành Phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở giữa vùng Nam Bộ trù phú, tiếp giáp với phía Nam của miền Ðông Nam bộ và rìa Bắc của miền Tây Nam bộ. Nơi đây là đầu mối giao thông lớn, nối liền với các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế.
Diện tích đất tự nhiên của thành phố là 2,095,239 km2. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 68,692 ha chiếm 32.7 % diện tích đất tự nhiên.
BẢN ĐỒ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đất đai thành phố HCM mang đặc tính chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long, tuy độ phì nhiêu không bằng các tỉnh trong khu vực nhưng với những nghiên cứu, đề xuất, tham mưu và chỉ đạo trực tiếp của Sở Nông nghiệp - PTNT, các địa phương và đơn vị sản xuất cơ sở đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp về kinh tế - kỹ thuật, đầu tư và hỗ trợ nông dân nên tiềm năng đất đai, kinh tế nông nghiệp - nông thôn vẫn luôn đạt những thành tích và hiệu quả tương đối cao.
So với các vùng trong cả nước  khí hậu thành phố Hồ Chí Minh  tương đối ôn hòa, ít gặp thiên tai. Khí hậu có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm là 1,979 mm, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm. Nhiệt độ trung bình năm 27.550 C, không có mùa đông. Với điều kiện đất đai và khí hậu thuận lợi, thành phố Hồ Chí Minh là một nơi lí tưởng để phát triển sản xuất rau an toàn. Nếu biết khai thác theo hướng nông nghiệp sạch và bền vững thì sản lượng và lợi nhuận sẽ gia tăng đáng kể.
Là thành phố đông dân và lớn nhất nước Việt Nam, Hồ chí Minh là nơi hội tụ nhiều dân tộc khác nhau như: Việt, Hoa, Khơ Me, Chăm…Với dân số đông đạt tới 6,062,993 người, mật độ dân số cao: 2,894 người/1 km2 (theo cục thống kê, 2004). Do vậy,  thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước là một thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn nhất nước nên việc mở rộng vùng cung cấp rau an toàn tại thành phố là hết sức cần thiết*.
Sự chênh lệch về số dân giữa nông thôn và thành thị (theo niên giám thống kê 2004, thành thị chiếm: 85%, nông thôn chiếm 15%,) là một trong những nhân tố quan trọng khác làm cho mức ‘cầu’ về rau an toàn ờ thành phố Hồ Chí Minh rất cao. Dân cư thành thị với mức sống và trình độ dân trí cao, có nhận thức cao hơn về các lợi ích của rau an toàn cũng như sẵn sàng chi trả cao hơn cho sản phẩm rau đạt chất lượng tốt.
Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng của thành phố HCM cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân chung của cả nước (bình quân thời kỳ 2000-2010 phấn đấu đạt 12%/năm. Riêng giai đoạn 2001-2005 đạt bình quân 11%/nămnăm). GDP bình quân đầu người tăng từ 1,350 USD năm 2000 lên 1,980 USD năm 2005. Điều này cho thấy dân cư thành phố Hồ Chí Minh có mức sống cao nhất nước.
Riêng về nông nghiệp, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nên thành phố Hồ Chí Minh phần lớn đi theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ, đô thị hóa cao. Đất nông nghiệp thành phố từng bước thu hẹp dần, ảnh hưởng đến tổng giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2004. Năm 2004 so với năm 2003 có sự tụt giảm về giá trị sản xuất nông nghiệp khá lớn. (xem đồ thị 11)
__________________________________________________________________________________*Chỉ tính trong năm 2002, mỗi ngày thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ 1,200 tấn rau các loại, trong đó chỉ có 20 tấn rau an toàn (nguồn 1, phụ luc 10). Mặc dù cho đến nay, diện tích sản xuất rau an toàn trên địa bàn thành phố đã được mở rộng nhưng vẫn không đáp ứng đuợc nhu cầu rộng lớn của thị trường- mới đạt 30% tổng nhu cầu (nguồn 7,phụ lục 10). 
Đồ thị 11: Tốc độ phát triển giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá so sánh 1994 (%) (nguồn Niên Giám thống kê 2004)








2. Rau an toàn thành phố Hồ Chí Minh    
2.1 Khái niệm về rau an toàn
2.1.1. Khái niệm của Bộ NN & PTNT
Trong chương trình phát triển Rau An Toàn, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã thống nhất đưa ra khái niệm về rau an toàn như sau:
Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả) có chất lượng đúng như đặc tính của nó. Hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường., thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “rau an toàn”. (nguồn 8, phụ lục 2)
Một khi nông dân trồng rau đi vào qui trình sản xuất đúng qui cách, tuân thủ đầy đủ các qui định về sản xuất rau an toàn thì việc nắm bắt được khái niệm chính xác và thực hiện đúng yêu cầu là điều không thể thiếu.
2.1.2 Khái niệm của nông dân
Theo nguồn thảo luận nhóm nông dân Củ Chi do Axis thực hiện  thì khái niệm về rau an toàn của người nông dân như sau:
+ Nông dân trồng rau an toàn phải thông qua lớp tập huấn
            + Sử dụng thuốc đúng qui cách (cách li theo đúng hướng dẫn trên bao bì, 3-7 ngày)
+ Phải ủ qua phân chuồng trước khi sử dụng
+ Nguồn nước sạch
+ Sau khi kết thúc một vụ, đất phải để 2 đến 3 ngày
+ Phải có nhà lưới (tránh mùa mưa)
+ Phải có thương hiệu, xuất xứ
Cũng theo người nông dân rất khó phân biệt rau an toàn và rau không an toàn bằng mắt thường, chủ yếu phải có nhãn mác và xuất xứ rõ ràng.

2.1.3. Khái niệm của người tiêu dùng (tham khảo phần 6, chương 2).
Phần tiếp sau đây sẽ đề cập kỹ hơn về quy trình trồng trọt của rau an toàn theo đúng quy định của Bộ NN & PTNT.

2.2. Quy trình trồng trọt rau an toàn (hình 4, 5, phụ lục 11)

2.2.1 Yêu cầu về đất trồng

Đất phải không chịu ảnh hưởng xấu của các chất thải công nghiệp, giao thông, khu dân cư tập trung,bệnh viện, nghĩa trang, có nghĩa là các chất độc hại cho người và cho môi trường.
Sau một vụ sản xuất, đất phải được phơi 2-3 ngày sau đó phải được xới tơi để trồng tiếp. Công việc này chủ yếu bằng thủ công. Nông dân chưa được trang bị cơ giới hoá như máy xới đất... nên với một diện tích đất 1.000 m2 thì công việc này rất nặng nhọc.

2.2.2  Yêu cầu về phân bón

Chỉ dùng phân hữu cơ như phân xanh, phân chuồng đã được ủ hoại mục, tuyệt đối không được dung các loại phân hữu cơ còn tươi. Số  lượng phân phải dựa trên tiêu chuẩn cụ thể quy định trong các quy trình của từng loại rau, đặc biệt với rau ăn lá kết thúc phân bón trước khi thu hoạch 15 – 20 ngày.

2.2.3 Nước tưới

Chỉ dùng nước giếng khoan, nước từ các sông hồ lớn không bị ô nhiễm các chất độc hại. Tuyệt đối không dùng trực tiếp nước thải từ các khu công nghiệp, thành phố, bệnh viện, khu dân cư, nước ao, tù đọng.

2.2.4 Phòng trừ sâu bệnh

Phải áp dụng phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp, ít độc hại cho người và môi trường:
-         Giống: Chọn giống tốt, các cây giống phải xử lý sạch sâu bệnh trước khi xuất ra khỏi vườn ươm.
-         Biện pháp canh tác: Cần tận dụng triệt để các biện pháp canh tác để hạn chế các điều kiện và các nguồn phát sinh các loại dịch trên rau. Chú ý thực hiện các chế độ luân canh Lúa – Rau hoặc xen canh giữa các loại rau khác họ với nhau để giảm bớt các loại sâu tơ và các loại sâu hại khác.
Một số loại rau cần phải trang bị nhà lưới chống sự xâm nhập của sâu bệnh
-   Dùng thuốc: Dùng thuốc khi thực sự cần thiết. Phải có sự điều tra phát hiện sâu bệnh, hướng dẫn dùng thuốc của cán bộ kỹ thuật. Bảo đảm thời gian cách ly trước khi thu hoạch đúng hướng dẫn trên nhãn của từng loại thuốc.

Như vậy, trước khi thực hiện canh tác rau an toàn, nhất thiết nông dân phải được trải qua lớp tập huấn kỹ thuật của Sở Nông Nghiệp. Các khoá huấn luyện này phải tập trung hỗ trợ kiến thức kĩ càng về quá trình trồng trọt như nêu trên.

2.3 Quá trình phát triển rau an toàn
Giai đoạn trước năm 1998    
Đây là giai đoạn tiền dự án về phát triển rau an toàn thành phố Hồ Chí Minh. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã ban hành quyết định số 67/1998 – BNN-KHCN ngày 28/4/1998 về “Quy định tạm thời về san xuất rau an toàn”. Đây là văn ban pháp lý đầu tiên và duy nhất đến nay liên quan đến sản xuất rau an toàn.
Ở giai đoạn này, việc phát triển rau an toàn (rau sạch) ngoại thành chi mới dừng lại ở mức nghiên cứu, xây dựng các mô hình thực nghiệm, trình diễn sử dụng thuốc Bảo vệ Thực Vật an toàn. Việc tiêu thụ rau an toàn chưa hình thành trong ý thức người sản xuất và người tiêu dùng Thành phố.
Giai đoạn từ 1998 – 2001
Đến giai đoạn này thành phố đã có chủ trương thực hiện chương trình sản xuất rau sạch qua thông báo số 395/TB –UB ngày 24/4/1996 về việc thông qua đề án triển khai chương trình sản xuất rau sạch và quyết định số 2598/QĐ-UB về việc thành lập Ban chỉ đạo chương trình rau sạch cấp thành phố. Vì vậy việc sản xuất rau an toàn được quan tâm nhiều hơn. Các sở, ban, ngành địa phương đã quan tâm phát triển cây rau nhiều hơn.
Trên cơ sở đó  các Tổ sản xuất rau an toàn ở Huyện Củ Chi đã dần dần hình thành và là nền tảng cho sự hình thành và phát triển các Tổ rau an toàn sau này.
Giai đoạn từ 2001 - 2003
Trong giai đoạn này, Sở Nông Nghiệp đã phối hợp với UBND các quận, huyện có sản xuất rau tập trung triển khai chương trình một cách đồn bộ. Cả diện tích giao trồng cũng như số lượng các tổ sản xuất tăng đáng kể: diện tích gieo trồng rau an toàn đã đạt hơn 700 ha, có 13 tổ sản xuất rau an toàn. Ở giai đoạn này đã có chuyển biến đáng kể trong nhận thức của người nông dân,  người tiêu dùng đối với sản phẩm rau an toàn.
Từ 2004 đến năm 2010
Để đáp ứng nhu cầu về rau an toàn ngày càng cao, trong chương trình phát triển rau an toàn đến 2010 (đã được Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố phê duyệt theo quyết định số 104/202/QĐ-UB ngày 19/9/2002) như sau:
Bảng 9 : Qui hoạch phát triển rau an toàn 2005 – 2010
                                                                                    Đơn vị: ha
Quận/Huyện
Năm 2005
Năm 2010
Tổng Diện Tích
Diện Tích rau  AT
Tổng Diện Tích
Diện Tích rau  AT
H. Củ Chi
3,600
2,000
3,900
3,900
H. Hóc Môn
1,000
800
900
900
H. Bình Chánh
2,000
1,000
1,700
1,700
Quận, Huyện khác
2,000
700
1,500
1,500
Tổng cộng
8,600
4,500
8,000
8,000
(Nguồn 12, phụ lục 10.)
Nhìn vào bảng qui hoạch trên cho thấy UBND thành phố đã có quyết tâm rất lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng: đến năm 2010 thì diện tích rau trồng trên địa bàn thành phố sẽ là 100% rau an toàn, với diện tích gieo trồng sẽ tăng gần 44%. Tuy nhiên do tốc độ đô thị hóa sẽ xảy ra ngày càng mạnh mẽ, đất sản xuất đang bị thu hẹp nhanh nên diện tích trồng rau khó phát triển hơn được. Trong khi đó, trồng rau an toàn mang lại hiệu quả kinh tế hơn so với rau bình thường trên cùng 1 diện tích đất sản xuất nên diện tích trồng rau trước đây đang dần thay thế bằng rau an toàn. Với tốc độ phát triển diện tích rau an toàn và nhu cầu gia tăng như hiện nay thì kế hoạch trên của UBND thành phố là hoàn toàn có thể đạt được.
2.4. Diện tích, năng suất, sản lượng
Như trên đã đề cập, quy hoạch thành phố về các khu vực công nghiệp, di dời các nhà máy, chuyển dịch đô thị làm thu hẹp diện tích trồng trọt. Khu vực bị ảnh hưởng lớn nhất là huyện Bình Chánh và Hóc môn trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá. Tuy nhiên diện tích trồng rau an toàn qua các năm vẫn đang tăng nhanh (xem bảng 10)
Như vậy, diện tích đất nông nghiệp Thành phố hiện nay  là 68,692 ha. Diện tích vùng rau an toàn là 1,880 ha (nguồn 7, phụ lục 10) tăng khoảng 95.5% so với năm 2000.
Bảng 10 : Tốc độ gia tăng diện tích rau an toàn qua cac năm
                                                                                  Đơn vị tính: ha
Năm
2000
2001
2002
Đầu năm 2005
 Diện tích rau an toàn
82
134
500
1,880
(Nguồn 4, phụ lục 10)
Sở Nông Nghiệp Thành phố dự kiến từ năm 2006 – 2010, Thành phố sẽ mở rộng diện tích canh tác rau lên 6,700 – 8,700 ha, tăng gấp 5-6 lần so với hiện nay, khi đó 100% diện tích là rau an toàn. (nguồn 7, phụ lục 10)
Vùng trồng rau an toàn tập trung chủ yếu ở các huyện Hóc môn, Bình Chánh, Củ Chi và số ít ở quận 9, quận 12. Củ Chi là vùng sản xuất rau an toàn lớn nhất của thành phố Hồ Chí Minh với diện tích khoảng 1,800 ha (nguồn 2, phụ lục 10). Tại các khu vực này chủng loại rau an toàn được trồng rất đa dạng (hình 1, 2, 3, phụ lục 11). Nông dân thường trồng nhiều loại khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Theo sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, hiện nay các loại chính trên địa bàn thành phố được chia thành 6 nhóm sau: (nguồn 7, phụ lục 10)
1 - Rau ăn lá ngắn ngày gồm : rau dền, rau muống cạn, rau tần ô, cải bẹ xanh, cải bẹ dún, xà lách, mồng tơi, cải ngọt, bạc hà; ước sản lượng khoảng 65,000 tấn/ năm.
2 - Rau ăn lá dài ngày có cải bắp, cải thảo, cải bông; ước sản lượng khoảng 9,000 tấn/ năm
3 - Rau ăn củ, quả ngắn ngày như dưa leo, khổ qua, mướp khía, đậu cove, đậu đũa, củ cải; ước sản lượng khoảng 35,000 tấn/ năm.
4 - Rau ăn củ quả dài ngày như đậu bắp, cà chua, cà tím, cà pháo, ớt, bầu, bí, ước sản lượng khoảng 10,000 tấn/ năm
5 - Rau muống nước ước sản lượng hàng năm khoảng 50,000 tấn ( chiếm 40% các loại)
6 - Rau gia vị như ngò rí, ngò gai, ớt cay, hành lá, húng cây
Sau đây là thị phần sản lượng của các nhóm rau này:
Đồ thị 12 : Sản lượng các loại rau an toàn 2004
(nguồn 7, phụ lục 4)
Như vậy, chiếm hơn 1/3 là các loại rau ăn lá ngắn ngày, sau đó là rau muống nước (29%) Các loại rau thường trồng là: cải ngọt, cải xanh, rau dền, rau muống, mồng tơi, xà lách, tần ô. Đạt năng suất cao nhất trên m2 là cải: 3-4 kg/m2. Rau muống là rau dễ trồng và tiêu thụ nhất do nhu cầu ăn rau muống rất cao (theo nguồn thảo luận nhóm nông dân Củ Chi).
Trên toàn thành phố có khoảng 45,000 hộ trồng rau (nói chung), trong đó có đăng kí 10,000 hộ. Ngoài ra còn có khoảng 35,000  hộ không chuyên (nguồn 7, phụ lục 10). Riêng về rau an toàn, tính đến 11-2004 thành phố đã lập 18 tổ sản xuất rau an toàn gồm 858 hộ, nhiều nhất là Củ Chi 12 tổ. Quận 12 chỉ có 1 tổ. (nguồn 2, phụ lục 10).
Điều đó cho thấy chủ trương trồng rau an toàn của thành phố đã được sự hưởng ứng cao của đa số nông dân trồng rau vì trước hết chương trình đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho họ nhưng vì một số nguyên nhân  (sẽ được trình bày sau) mà hiện nay chương trình vẫn chưa huy động được toàn bộ 100 % số hộ nông dân  tham gia.
Mặc dù diện tích rau an toàn hàng năm gia tăng đáng kể lại có sự đa dạng trong chủng loại rau trồng nhưng sản lượng vẫn không tăng đáng kể. Với năng suất bình quân : 20 tấn/ ha/ vụ sản xuất, tổng sản lượng rau sản xuất ở ngoại thành vào khoảng 165,000 – 170,000 tấn/năm. Lượng rau này chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu tiêu thụ của thành phố), còn 70% phải nhập từ các tỉnh xa, chủ yếu là rau từ Đà Lạt và các tỉnh miền Tây như Long An, Bến Tre, An Giang v.v. (nguồn 7, phụ lục 10). Vì vậy sản xuất rau an toàn vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ rau an toàn của người dân thành phố. (Tham khảo thêm phần khó khăn trong phần nông dân để hiểu rõ hơn về nguyên nhân)
Để phát triển vùng rau an toàn, ngay từ những năm 2001 Sở Nông Nghiệp và PTNT đã tiến hành công tác qui hoạch vùng sản xuất rau an toàn và các bước thẩm định về đất, nước và hướng dẫn nông dân sản xuất rau theo qui trình sản xuất rau an toàn trên qui mô vùng, như sau.

- Bước 1: Thẩm định vùng sản xuất rau an toàn.

- Bước 2: Công nhận vùng đủ điều kiện sản xuất rau an toàn Nông dân trong vùng được tập huấn, huấn luyện và nhận được hướng dẫn cần thiết, làm cam kết  thực hiện quy trình sản xuất rau an toàn.

 - Bước 3 - Công nhận vùng rau an toàn: Công nhận vùng rau an toàn trong vòng 3  tháng, khi các mẫu rau trong vùng không có dư lượng thuốc trừ sâu vượt quá quy định.
- Bước 4 - Tái công nhận vùng sản xuất rau an toàn: Tiến hành kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu trong rau thường xuyên để sau một năm có thể tái công nhận vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn an toàn.
Trên đây là qui trình đã được đưa vào áp dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên các qui định còn chưa chặt chẽ. Chẳng hạn như việc ‘tái công nhận vùng sản xuất rau an toàn’ chưa qui định rõ ràng việc lấy mẫu như thế nào, thời gian kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu trong rau cụ thể là bao lâu một lần? Phương pháp kiểm tra chưa được hướng dẫn và phổ biến rộng rãi và cụ thể nên hay xảy ra nhầm lẫn
2.5.  Thông tin xuất nhập khẩu
 Hiện nay rau an toàn chưa được xuất khẩu theo dạng tươi hoặc cấp đông, mà chủ yếu là các sản phẩm được chế biến do chưa có kho lạnh và kĩ thuật chế biến cấp đông hiện đại nên rất khó giữ sản phẩm trong thời gian lâu (hiện chỉ 3-5 ngày)
Việc xuất khẩu diễn ra nhỏ lẻ chủ yếu cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài như Úc…hay một số nước Châu Á như  Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc… Phương tiện chủ yếu bằng tàu thủy, máy bay. (Nguồn: Axis- phỏng vấn các công ty chế biến)
Theo Cán bộ Sở Nông Nghiệp và  Phát Triển Nông Thôn Thành Phố Hồ Chí Minh cho biết giá trị xuất khẩu rau an toàn của thành phố Hồ Chí Minh chỉ chiếm khoảng gần 1%, chủ yếu là rau gia vị. Trong phần tiếp sau đây, chúng tôi sẽ đề cập chi tiết hơn về xuất khẩu rau khi phân tích về chuỗi cung ứng (các công ty xuất nhập khẩu).

Công tác chứng nhận rau an toàn: Căn cứ vào kết quả kiểm tra của Chi cục Bảo Vệ Thực Vật, UBND xã, phường làm văn bản kiến nghị UBND huyện, quận  đề nghị Sở Nông nghiệp và PTNT ra quyết định công nhận vùng sản xuất rau an toàn. Sở Nông nghiệp và PTNT  ra quyết định công nhận vùng  rau an toàn. Cho đến đầu năm 2005, vùng rau an toàn là 1,880 ha (nguồn: theo sở NN&PTNT) trong đó diện tích được UBND thành phố Hồ Chí Minh công nhận là 634 ha (Nguồn 14, phụ lục 10).
Nhãn hàng: Theo sở NN & PTNT hiện trên địa bàn thành phố có khoảng 10–15% sản lượng rau an toàn được dán nhãn (xem danh sách đơn vị công bố chất lượng rau an toàn trong phụ lục 13).

II. ChuỖi cung Ứng rau An Toàn Thành PhỐ HỐ Chí Minh

Sơ đồ 18: Chuỗi cung ứng rau an toàn Hồ Chí Minh
Đặc điểm chung
So với các sản phẩm rau quả khác, chuỗi cung ứng rau an toàn thành phố Hồ Chí Minh tương đối chặt chẽ. Các đối tượng giữa các khâu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó vai trò của thương lái – hợp tác xã là chủ lực.
Rau an toàn được hình thành từ các hộ trồng rau (hay gọi là Tổ rau an toàn). Các Hợp tác xã này chủ yếu được thiết lập cho mục đích trồng trọt rau theo qui trình đảm bảo an toàn. Nhưng một số Hợp tác xã ngoài việc trồng trọt còn xúc tiến được việc tiêu thụ thu gom, tập hợp sản phẩm của các nông dân để cung cấp cho các cửa hàng, các siêu thị, trung tâm bán sỉ hiện đại để hình thành nên mô hình mẫu trong việc cung cấp rau an toàn tại thành phố. (Đây là hình thức tương đối khác biệt với rau quả của đà Lạt hay các nơi khác, khi vai trò thương lái không hoàn toàn riêng biệt mà nhiều phần gắn liền với HTX, khiến cho chuỗi giá trị rau ở đây đơn giản hơn các nơi khác)
Một số công ty rau quả có chuỗi cửa hàng, cung cấp cho các Nhà hàng, khách sạn thường mua trực tiếp từ các hộ nông dân hay các tổ rau an toàn. Phần còn lại (hợp tác xã và các công ty không thu mua hết) các nông dân tự mang sản phẩm của mình bán tại các chợ lẻ cho người tiêu dùng nhưng giá của rau an toàn lúc này không cao.
Như vậy, cả người nông dân, siêu thị, các cửa hàng hiện nay đều có chức năng như những người bán lẻ thực thụ. Tuy nhiên về qui mô cũng như về hình thức bao bì đóng gói, quy cách hàng hoá có những sự khác biệt nên giá cả cũng khác nhau rất nhiều.
Riêng về các công ty chế biến, do hiện nay trên thành phố việc chế biến rau an toàn chưa được đẩy mạnh nên những công ty chế biến thường chỉ sản xuất ở qui mô nhỏ với nguồn rau chủ yếu từ Đà Lạt (xem thêm chuỗi giá trị Đà Lạt). Vì phải tuân thủ theo qui trình của nước được nhập khẩu nên phần lớn họ tự trồng tại các nông trại hoặc hợp tác với người nông dân một cách chặt chẽ.
Sau đây sẽ là chi tiết các thành phần tham gia chuỗi giá trị rau thành phố HCM.

1. Hộ Nông Dân
Sơ đồ 19: Nông dân và các mối quan hệ trực tiếp

                         Thông thường, mỗi nông dân trồng một chủng loại rau phổ biến từ 200 m2 đến 1,000 m2 và xen kẽ các loại rau giữa các vụ nên sản lượng mỗi loại không lớn quá tránh tình trạng tồn đọng.
Ban đầu là sự phụ thuộc vào người mua (thương lái – hợp tác xã) và tự phát theo kinh nghiệm trồng trọt, sự hướng dẫn của Trung tâm khuyến nông. Sau đó, nhờ tác động của sự hợp tác, trao đổi trực tiếp giữa các nông dân với nhau tìm ra nhu cầu của khách hàng khác nhau để quyết định chủng loại trồng trọt.
Các loại rau an toàn mà người nông dân thành phố sản xuất chiếm phần lớn là rau ngắn ngày vì các loại rau này dễ trồng, thời gian canh tác ngắn, lợi nhuận khá cao và được người tiêu dùng ưa chuộng. Sau đây là bảng tham khảo về diện tích, sản luợng của một số loại rau ngắn ngày tại Củ Chi.
Bảng 11 : Diện tích, sản luợng của một số loại rau ngắn ngày tại Củ Chi
Loại rau
Thời gian trồng
(ngày)
Diện tích trồng
(m2)
Sản lượng
(Kg)
Tỷ suất sản lượng
(kg/m2)
Lợi nhuận
(VNĐ)
Rau Muống
25
500
1,200
2-3
1,500,000
Rau Đay
22
200
300
1-1.5
500,000
Rau Dền
35
200
700
2
1,800,000
Rau cải xanh
25
1000
2,000
2 -3
3,000,000
Rau cải ngọt
23
2000
4,000
2-3
6,000,000
(Nguồn thảo luận nhóm nông dân Củ Chi do Axis thực hiện).
Như  vậy, đối với các loại rau trồng quanh năm, nhất là rau ăn lá ngắn ngày như rau dền, rau muống v.v., một năm có thể trồng tới 8 vụ, năng suất có thể đạt 2-3 kg/ m2 .
Một vụ, nông dân trồng xen kẽ các loại rau khác nhau khiến cho lợi nhuận thu được từ rau không nhỏ, trung bình 30 triệu/ ha/ vụ.
Còn đối với các loại rau ăn củ, ăn lá dài ngày như cải bắp, cải thảo, cải bông, đậu bắp, cà chua…thì ít vụ trong năm hơn và năng suất, sản lượng, lợi nhuận thu được trong năm cũng thấp hơn rau ngắn ngày. Một số vùng do đặc điểm đất đai hay thói quen, người nông dân chỉ trồng rau trong nửa năm, nửa năm còn lại, trồng lúa hoặc để hoang. Tuy nhiên số này khá ít vì không chuyên.
Khác với người nông dân sản xuất rau bình thuờng, nông dân sản xuất rau an toàn phải tuân thủ theo một qui trình khá chặt chẽ từ lúc trồng trọt cho đến lúc thu hoạch. Do yêu cầu của baó cáo nên chúng tôi sẽ tập trung phân tích chuỗi cung ứng bắt đầu từ khâu thu hoạch.
Sơ đồ sau đây (Sơ đồ 20) sẽ cho thấy qui trình sau thu hoạch của rau an toàn (hình 4 -18, phụ lục 11)

 

1.1 Thu hoạch (hình 6, phụ lục 11):
Thông thường, nếu đúng qui trình thì rau được thu hoạch vào lúc sáng sớm vì khi đó rau trông tươi mát, chưa mất nước và cân nặng nhất trong ngày. Nếu được nông dân tự vận chuyển ra chợ bán lẻ hoặc đến điểm thu mua ngay.
Tuy nhiên trên thực tế của nghiên cứu, nếu nông dân bán cho công ty hay hợp tác xã thì  rau tại thành phố Hồ Chí Minh được thu hoạch vào lúc chiều (từ 4-5 giờ) khi đó rau khô ráo để tránh giập nát khi vô bao bì và dễ vận chuyển về đêm *
1.2 Cắt gốc (hình 7, phụ lục 11)
Sau khi nhổ rau được cắt gốc tại vườn nếu có yêu cầu, một số Công ty, hợp tác xã và một số khách hàng là nhà bán lẻ cấp hàng cho các căn tin, nhà trẻ, bếp ăn tập thể thường yêu cầu phải cắt gốc. Tuy nhiên, khi bán tại các chợ lẻ nông dân thường để gốc cho tươi, gốc sễ được cắt tại chợ khi người mua yêu cầu.
1.3 Cắt tỉa (hình 7, phụ lục 11):
Công tác này nhằm loại bớt các lá vàng, bóc tỉa các lá không đẹp, hay cắt tỉa khi rau có độ dài than không đồng đều…Đây cũng là khâu phân loại nhanh để đáp ứng các nhu câu khác nhau của khách hàng. Nhìn chung chất lượng rau an toàn tại thành phố Hồ Chí Minh tương đối đồng nhất.
 Thông thường, hao hụt trong việc cắt gốc, tỉa bỏ trung bình khoảng 10-15% nhưng vào những ngày mưa có thể lên tới 50 – 60% (nguồn thảo luận nhóm nông dân Củ Chi).  Lượng hao hụt này thông thường là do kết quả của quá trình trồng trọt, được tính vào năng suất trồng trọt đối với nông dân. Nguyên nhân lớn nhất là do ảnh hưởng của yếu tố thời tiết và sâu bệnh.
1.4 Bó (hình 10, phụ lục 11)
Rau được bó thành 0.5 – 0.8 kg/ bó tùy theo yêu cầu của khách hàng. Dây bó được sử dụng thường là dây lạt hoặc dây nhựa
1.5 Dán nhãn (hình 10, phụ lục 11)
Đây là khâu yêu cầu bắt buộc và cũng là yếu tố quan trọng để người tiêu dùng nhận biết rau an toàn (xem thêm phần Người tiêu dùng). Tuy nhiên, việc dán nhãn rau an toàn Hồ Chí Minh chưa phải lúc nào cũng được thực hiện, hoặc được thực hiện tại hợp tác xã – thương lái, không phải do người nông dân.


* Ngoài ra còn một lí do nữa là khi rau khô thì cân nặng thấp hơn khi ướt, điều đó sẽ có lợi hơn cho người thu gom.
Như trên đã trình bày, khi nông dân bán ra chợ lẻ rau đều không được dán nhãn nên không thể phân biệt được rau an toàn và rau thường tại chợ bằng mắt thường. Vì vậy, giá cả giữa rau an toàn và không an toàn nhìn chung không có sự khác biệt. Đó là lí do người nông dân không dán nhãn cho rau của mình. Ngoài ra họ cũng chưa ý thức được việc quảng bá nhãn hiệu rau an toàn cho khách hàng khi bán lẻ tại chợ
Thông thường khi bán cho hợp tác xã, nếu được yêu cầu nông dân sẽ buộc rau bằng các dây có mang nhãn hiệu riêng được hợp tác xã cung cấp (do Sở Nông Nghiệp hoặc chi cục bảo vệ thực vật thành phố chứng nhận).
Trên nhãn có ghi tên hợp tác xã, xuất xứ và ngày thu hoạch. Khi khách hàng là các siêu thị, người nông dân, hay hợp tác xã thường dán nhãn hiệu này kèm theo nhãn hiệu của siêu thị. Việc cung ứng rau cho các bếp ăn, các cơ quan, khách sạn, nhà hàng… hầu như không có nhãn hiệu do đã biết rõ nguồn gốc rau vì mua trực tiếp từ hợp tác xã.
1.6 Đóng gói
Rau được đặt vào các rổ nhựa, cần xé (hình 12, phụ lục 11 ) để tránh dập nát khi vận chuyển (khoảng 20  hoặc 50kg/ giỏ). Người nông dân thường xếp phần lá vào trong, cuống ra ngoài, những rau dễ dập, úa ở dưới để tránh hao hụt. Thời gian đóng gói khoảng 50 kg/ 1 tiếng.
1.7 Vận chuyển ( hình 16,17, phụ lục 11)
Người nông dân thường tự vận chuyển hàng đến hợp tác xã hoặc đến chợ. Các phương tiện vận chuyển thường được sử dụng là xe máy, xe đạp với quãng đường tương đối ngắn. Hao hụt trong khâu này gần như không đáng kể (1-2%) (nguồn thảo luận nhóm nông dân Củ Chi). Khi hợp tác xã, công ty thu mua cân hàng tại điểm tập kết đã có tính đến hao hụt này.
Tóm lại:
Đa số nông dân chỉ đảm trách phần thu hoạch và chuyên chở thẳng đến điểm thu mua. Cá biệt có nông dân tự thu hoạch, cắt tỉa, đóng gói và dán nhãn ngay tại vườn rồi chuyên chở tới Hợp tác xã hoặc Công ty thu mua (như hợp tác xã Rau An Toàn Tân Phú Trung hay công ty Sao Việt…).
Tuy nhiên, do bên mua không tin tưởng vào việc nông dân có thể  tuân thủ đúng quy cách yêu cầu của khách hàng sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận  nên thông thường Hợp tác xã hoặc Công ty thu mua tự làm lấy các khâu bằng cách mua nguyên cây (tự cắt gốc, tỉa cành theo quy cách khách hàng đặt) và mức độ hao hụt từ người nông dân nhờ đó khá thấp (1-2%).
 Trong qui trình sau thu hoạch của rau an toàn điều quan trọng nhất là thời điểm thu hoạch và bao bì, đóng gói giúp cho việc xác nhận rau sạch được đúng quy định và giảm thiểu tổn thất trong quá trình vận chuyển. Đặc biệt, vấn đề dán nhãn là một vấn đề quan tâm hàng đầu khi mà một lượng rau không nhỏ (khoảng 20%, nguồn thảo luận nhóm nông dân) đi trực tiếp từ người nông dân đến chợ lẻ hoặc người tiêu dùng mà không được dán nhãn. Trong trường hợp này rau an toàn không còn thể hiện “đẳng cấp” của mình so với rau thường nên đây là một thiệt thòi của người nông dân*.
1.8 Thông tin Tiêu thụ và Hợp đồng
Hầu như việc tiêu thụ rau của nông dân đều thông qua các Tổ sản xuất (HTX). Mặc dù vậy nông dân phải luôn tự chủ động trong công tác tiêu thụ của mình vì sản lựơng sản xuất nhỏ, mỗi nông dân lại không thể tự liên hệ để cung cấp cho một đơn vị nào cả. Giải pháp thực tế nhất là mang ra chợ lẻ để bán sau khi thu hoạch. Giá bán ra tuỳ thuộc vào thực tế buổi chợ.

*Trên địa bàn thành phố có 30 đơn vị đăng ký công bố chất lượng rau an toàn tại Sở Nông nghiệp. Tuy nhiên, nguồn hàng các doanh nghiệp này thu mua có cả từ các tỉnh lân cận. Mẫu rau để kiểm tra tính an toàn chỉ mang tính đại diện nên một lượng lớn rau hiện tiêu thụ tại thành phố hiện không được kiểm nghiệm (nguồn 12, phụ lục 10)
Đến 75-80% rau sạch do nông dân cấp hàng qua HTX. Họ chỉ có một trách nhiệm là sản xuất theo yêu cầu của khách hàng và theo phân bổ chủng loại rau do HTX quyết định. Công việc này tốt hơn rất nhiều, ít rủi ro, lại ổn định về đầu ra. Mọi giao dịch đều có người đại diện HTX đảm nhiệm. Giá bán ổn định do có hợp đồng với khách hàng. Mặc dù vậy vẫn xảy ra trường hợp là giá thu mua của hợp tác xã thấp hơn giá chợ. Đôi khi vì lợi nhuận một số nông dân để lại một ít hàng để bán lẻ (số ít).

-Khi nông dân bán hàng tại chợ, bán hàng cho HTX (Hợp tác xã đại diện là người mua để cung cấp cho các khách hàng), bán hàng cho các công ty tất cả đều ở dạng hợp đồng miệng.
Việc thanh toán thường là tiền mặt và được thanh toán ngay. Tuy nhiên việc cung cấp rau qua Hợp tác xã phụ thuộc vào khách hàng nên việc thanh toán thông thường là sau 15 ngày*
1.9 Khó khăn và hướng kiến nghị cho người nông dân trồng rau an toàn
Khó khăn
Hướng khắc phục
Thời tiết: Thông thường nếu mùa mưa, nông dân tổn thất gần 50-60% sau khi cắt, tỉa. (nguồn thảo luận nhóm nông dân Củ Chi)

Kĩ thuật canh tác: mặc dù trong thời gian qua người nông dân trồng rau an toàn đã nhận được nhiều sự giúp đỡ và hướng dẫn nhưng nhìn chung kĩ thuật canh tác của họ chưa cao, việc ứng dụng kĩ thuật canh tác mới còn hạn chế và chưa đồng bộ, phần lớn còn dựa nhiều vào kinh nghiệm trồng trọt.
Cơ giới hóa trong sản xuất: việc cơ giới hóa trong sản xuất rau chưa cao, nông cụ hiện đại không nhiều nên năng suất, hiệu suất còn thấp. Nhiều Nông dân mong muốn được cơ giới hoá trong sản xuất ở các khâu như: đập đất, xới đất, xịt thuốc
Vốn: Đầu tư cho Nhà lưới 1,000 m2 chi phí hết 25,000,000 đồng, khấu hao trong vòng 3 năm. Rất nhiều Nông dân phải vay vốn ngân hàng nhưng theo họ thủ tục vay vốn ngân hàng còn khó khăn.
Phân bổ rau:  Đối với các nông dân việc phân bổ rau trồng khá quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận của xã viên HTX.
Đầu tiêu thụ: như trên đã trình bày, khi hợp tác xã không thu mua hoặc giá của hợp tác xã mua giá thấp hơn giá lẻ, nông dân phải chịu nhiều thiệt thòi.
à Có thể hỗ trợ nhà lưới phù hợp với điều kiện tự nhiên cho từng vùng (Củ Chi, Bình Chánh). Thí dụ: rau cải, xà lách chỉ thích hợp nhà lưới hở, đậu đũa, đậu côve thích hợp nhà lưới kín chẳng hạn.

à Hỗ trợ kĩ thuật trồng và chăm sóc, chọn giống chống sâu bệnh. Hỗ trợ để được tham gia lớp tập huấn: tiếp cận với kĩ thuật hiện đại thay thế các phương thức thủ công, biết phân loại và sử dụng thuốc hiệu quả.

à Trong cuộc thảo luận nhóm nông dân đưa ra đề nghị: mỗi hộ chỉ cần 1 máy xới đất với diện tích trên 3000 m2 , nếu diện tích nhỏ hơn 3000 m2 thì 2 hộ dùng chung 1 máy


à Hỗ trợ vốn cho nông dân, được vay ngân hàng với lãi suất thấp không cần thế chấp. Đơn giản hóa các thủ tục vay vốn ngân hàng

à Quy hoạch vùng sản xuất tập trung, ngành nông nghiệp cần trợ giúp và hướng dẫn thêm.
à Cập nhật, phổ biến kiến thức về thị trường thông qua nhiều hình thức khác nhau để người dân nắm bắt thông tin kịp thời, tìm đầu ra cho sản phẩm của họ và giúp đỡ nông dân đa dạng hóa sản phẩm hơn nữa để đáp ứng nhu cầu thị trường.
-> Người nông dân mong muốn có nhiếu khách hàng cho HTX để họ yên tâm sản xuất nên cần phải quảng bá và xúc tiến mạnh hơn nữa trong công tác phát triển khách hàng.

*Có những lúc tiền về trễ, Hợp tác xã phải ứng tạm cho nông dân 500,000 đồng- 1 triệu đồng để người nông dân mua giống cho vụ tiếp theo. (nguồn : Axis - thảo luận nhóm nông dân Củ Chi)

2. Hợp tác xã /Thương lái (hình 19, 20, 21, phụ lục 11)
Sơ đồ 21: Thương lái và các mối quan hệ trực tiếp
2.1 Đặc điểm chung
Đây là khâu quan trọng nhất trong chuỗi giá trị rau thành phố HCM, do các tổ sản xuất trong mô hình mẫu hoặc các hợp tác xã tại địa phương cũng đồng thời giữ luôn vai trò thương lái.  
Các thương lái thường có địa điểm sơ chế, dán bao bì, có xe tải vận chuyển, có văn phòng giao dịch riêng, cùng với một lực lượng nhân công đông đảo.

2.2 Quy mô hoạt động

Nhìn chung quy mô hoạt động của các hợp tác xã rau an toàn là nhỏ hơn các công ty rau quả do chỉ hoạt động trong khu vực của mình và công tác tiếp thị, khách hàng ít hơn. Các hợp tác xã tiêu thụ bình quân 15 – 20 tấn/tháng.
Các công ty rau quả  kinh doanh rau an toàn có quy mô lớn hơn nhiều. Lượng tiêu thụ rau an toàn đa dạng hơn vì có thể thu mua từ nhiều khu vực khác nhau trên địa bàn. Công Ty Rau Quả Miền Nam là công ty thu mua rau lớn nhất tại thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm cung ứng cho nội địa 700,000 – 800,000 tấn (nguồn phỏng vấn sâu Công Ty Rau Quả Miền Nam do Axis thực hiện)

2.3 Phương thức thu mua

Thương lái thường thu mua từ nông dân trên cùng khu vực (mua quanh năm). Theo đơn đặt hàng của nơi tiêu thụ, họ hợp đồng lại với người sản xuất bằng cam kết đặt hàng (ràng buộc bằng tín chấp, sổ theo dõi, không cần thủ tục) về chủng loại, số lượng; riêng giá cả phụ thuộc vào biến động của thị trường. Sau đó thu mua và cung ứng cho các đơn vị đặt hàng.
Các công ty thường giao dịch với nhóm nông dân hoặc tổ sản xuất, có điểm tập kết và công ty tự chuyên chở về điểm sơ chế. Công ty thu mua ở dạng nguyên cây và tự sơ chế theo yêu cầu của khách hàng. Hợp tác xã thì thu mua tại điểm sơ chế của mình. Nông dân tự mang đến và hàng đã tự sơ chế.
2.4 Quy trình sau thu hoạch
Như đã trình bày ở phần người nông dân, các khâu sau thu hoạch rất quan trọng, để đảm bảo chất lượng phần lớn thương lái đảm trách các khâu này. Họ cũng tham gia vào các quá trình cắt, tỉa, phân loại, bó, đóng gói, dán nhãn, vận chuyển. Tuy nhiên so với người nông dân, các khâu này được tiến hành theo một qui trình chặt chẽ và kĩ lưỡng hơn với qui mô lớn và tập trung hơn. Sau đây là qui trình.

2.4.1 Sơ chế (hình 8,  phụ lục 11):

Thương lái có điểm sơ chế riêng, điểm sơ chế rau an toàn của các công ty được trang bị tốt hơn hợp tác xã. Tại điểm tập kết thương lái cũng tiến hành sơ chế nhưng có khác biệt hơn so với nông dân là rau được rửa sạch (có nơi bằng nước ozon). Rau được phân loại kĩ càng cho từng khách hàng. Hao hụt ở khâu này khoảng từ 10 – 15% (nguồn phỏng vấn công ty rau quả, các hợp tác xã)

2.4.2 Đóng gói, dán nhãn (hình 10,11,12, phụ lục 11)

Đây là khâu nói lên vai trò rất lớn của thương lái đối với việc đảm bảo chất lượng và quảng bá cho sản phẩm của nông dân. Phương thức đóng gói của thương lái tiến bộ hơn hẳn so với người nông dân. Các công ty có 2  hình thức đóng gói chính được sử dụng như sau:

v      Nếu đến bếp ăn, bệnh viện, trường học …đối với rau lá thường được đóng túi nilon với nhãn hiệu bên ngoài.
v      Nếu đến siêu thị thì đóng vào khay xốp, bọc màng bên ngoài cho các loạii củ, quả và có dán nhãn hiệu bên ngoài.
Đóng gói của các Hợp tác xã đơn giản giống như đến các bếp ăn của công ty. Điểm bán sẽ tự đóng gói hoặc không đóng gói.
2.4.3 Tồn trữ, bảo quản (hình 13, 15, phụ lục 11)
Rau thuộc hàng tươi sống nên không thể tồn trữ lâu sau thu hoạch tại hợp tác xã và công ty rau quả. Chỉ riêng một số ít công ty chế biến mới có nhà lạnh để bảo quản sản phẩm. Các hợp tác xã đều không có nhà lạnh nên tất cả rau phải được tiêu thụ ngay trong ngày hoặc bỏ làm phân xanh. Mức hao hụt rất đa dạng tùy theo mùa vụ và tùy theo các thay đổi trong đơn đặt hàng. Do vậy  cho đến nay việc tồn trữ chưa được ghi nhận.

2.5 Vận chuyển (hình 18, phụ lục 11)
Hợp tác xã và công ty rau quả đều vận chuyển tới các khách hàng này bằng xe tải nóng (không có xe lạnh), hoặc bằng xe máy (khi số lượng ít). Việc vận chuyển thường được thực hiện vào buổi sáng sớm (thời tiết mát mẻ). Nếu như khi sắp xếp để vận chuyển người nông dân thực hiện rất đơn giản bằng các cà xé và để rau chồng chất rau lên xe thồ hoặc cần xé thì thương lái lại rất lưu tâm đến phần này. Để giảm thiểu hao hụt, họ xếp rau vào rổ nhựa có thể chồng lên nhau mà không bị dập nát. Vì khoảng cách vận chuyển gần  nên theo các công ty, các hợp tác xã, hao hụt trong giai đoạn này khoảng 2-5%.

2.6 Khách hàng                 

2.6.1 Khách hàng của Hợp tác xã  thường là các siêu thị, các bếp ăn tập thể, nhà trẻ, bệnh viện, trường học.... Lựơng khách hàng ít do tính chủ động tiếp thị thấp. Hầu hết do giới thiệu và khách hàng tự tìm tới. Một số hợp tác xã hay nông dân  có bán cho người bán lẻ nhưng hình thức đơn giản.
2.6.2 Khách hàng của các công ty rau quả thì rộng hơn do khả năng tiếp thị cao hơn và chủ động hơn. Khách hàng của họ thường là nhà hàng, khách sạn, các bếp tập thể (phần lớn là các bếp ăn tập thể ở khu công nghiệp, các siêu thị và các chuỗi cửa hàng bán lẻ cho người tiêu dùng. Ngoài ra một phần sản phẩm rau quả được chế biến và xuất khẩu đi Nhật Bản, Hàn quốc, Hồng Kông, Trung Quốc... Tuy nhiên, theo Công Ty Rau Quả Miền Nam cho biết phần xuất chưa tới 10% tổng số sản phẩm thu mua.
 Phần lớn các sản phẩm được chế biến và xuất khẩu là các loại rau củ như đậu bắp, ớt, cà tím... và các loại củ như khoai sọ, khoai mỡ, gừng, nghệ… Các loại rau lá ít được xuất khẩu do chưa có hệ thống bảo quản có thể để lâu 1 tháng (Nguồn phỏng vấn sâu công ty rau quả miền Nam và công ty Cofidec). (hình 9, phụ lục 3)


2.7 Hợp đồng
Như trên đã đề cập, hợp đồng của thương lái khi thu mua thường bằng miệng hoặc cam kết bằng giấy cho cả năm. Tuy nhiên hợp đồng cung cấp rau giữa thương lái và khách hàng thì trừ trường hợp cung cấp nhỏ lẻ cho các bếp ăn, nhà trẻ, phần lớn các cung cấp có sản lương lớn,hợp tác xã và công ty rau quả đều có hợp đồng viết với các khách hàng. Nội dung các hợp đồng thường có ghi các điều khoản chung như sau:
1.      Trách nhiệm về an toàn thực phẩm nếu có ngộ độc thực phẩm do rau quả. Người bán chịu trách nhiệm.
2.      Chất lượng hàng hoá tốt, không hại sức khoẻ, không mang bệnh cho người tiêu dùng
3.      Chỉ định rõ ràng các quy cách về sản phẩm, đóng gói
4.      Giá cả được cố định trong 1 khoảng thời gian, thay đổi sẽ báo giá lại sau chu kỳ đó.
5.      Thời gian đặt hàng, giao hàng, phương tiện vận chuyển sạch sẽ
6.      Các chứng từ, hoá đơn giao hàng
7.      Thanh toán: Thường 10 – 15 ngày*
2.8 Lợi nhuận
Lợi nhuận đối với các hợp tác xã được tính bằng tiền, trừ chi phí (khoảng 3,000 đ/kg) với giá bán trung bình là 3,500 đ/kg thì lợi nhuận của hợp tác xã – thương lái khoảng 500 đ/kg, đạt khoảng 20%
2.9 Những thuận lợi, khó khăn và Hướng khắc phục
Nhìn chung thương lái, Hợp tác xã/thương lái thành phố HCM có một số thuận lợi như:
q       Thương lái được nông dân cung cấp nguồn hàng chất lượng tốt nhất, số lượng ổn định vì họ thường có cam kết đặt hàng trước với người sản xuất
q       Các thương lái là hợp tác xã hoặc tổ sản xuất còn có sự trao đổi kinh nghiệm, những tiến bộ về kĩ thuật, về giống với nông dân, đồng thời có mối quan hệ lâu năm với nông dân nên không cần kí kết hợp đồng giấy
q       Các thương lái đều có điều kiện và phương tiện vận chuyển riêng.
q       Một số công ty có hệ thống bảo quản, tồn trữ riêng nên một số sản phẩm có thể xuất khẩu
q       Các thương lái thường chủ động về giá cả thu mua sao cho có lợi nhất, nên ít bị rủi ro trong kinh doanh

Tuy nhiên, thương lái cũng gặp khá nhiều khó khăn như sau:


 
* Các hợp đồng đều không cam kết mua hàng thừơng xuyên, Không cam kết số lượng tiêu thụ mà chỉ đề cập theo đơn hàng cụ thể. Nếu không có đơn đặt hàng, thì không giao hàng.
Các hợp đồng không yêu cầu về nhãn hàng hoá, vì mặc nhiên đó là sản phẩm của chính công ty cung cấp. Trừ trường hợp Metro ghi rõ ràng nhãn hiệu sản phẩm rau an toàn và xuất khẩu)


Khó khăn
Hướng khắc phục
Sơ chế: Vì không có kho để trữ bảo quản hàng nên mọi việc sơ chế, đóng gói, vận chuyển phải được làm nhanh, làm hết, làm cả ban đêm để có thể chuyển hàng đến cho khách. Ngoài ra cơ sở vật chất cho các điểm sơ chế, đóng gói, bảo quản vẫn nghèo nàn, đôi khi còn thiếu vệ sinh.

Chế biến: Hầu như việc chế biến rau quả rất hạn chế vì chưa biết cách chế biến, đặc biệt là rau
Thông tin, kiến thức : đối với người thu mua là các công ty rau quả thì phần nào cũng nắm bắt được một số kiến thức cần thiết nhưng đa phần các thương lái đều bị hạn chế về kiến thức trong một số lĩnh vực có liên quan như:
·            Kiến thức bảo quản
·            Kiến thức vệ sinh an toàn
·            Kiến thức dán nhãn hàng
·            Kiến thức phân loại tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa
·            Kiến thức vận chuyển hàng hóa
·            Kiến thức về thu thập thông tin thị trường
Thương lái gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng. Ngòai ra, xuất khẩu còn hạn chế, đặc biệt cho rau lá.
à Nhu cầu về việc nâng cấp các cơ sở sơ chế, đóng gói, tập kết hàng hoá là khá bức thiết. Đó cũng là phương pháp giữ cho sản phẩm an toàn. Thương lái còn mong muốn đựợc tiếp cận với khoa học kĩ thuật mới để thực hiện vai trò của mình một cách tốt nhất thông qua các điểm sơ chế, bảo quản hiện đại
à Hỗ trợ thông tin và phương pháp kĩ thuật chế biến đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế

à Hỗ trợ các lớp tập huấn cung cấp và hướng dẫn những kiến thức cần thiết cho thương lái theo các yêu cầu bên cạnh.








-> Cần có các hoạt động được đẩy mạnh hơn nữa, như mời các đoàn các nước đến tham quan và kí kết thay vì chỉ đưa các đòan đi ra nước ngòai như hiện nay.

3. Nhà bán sỉ ( hình 22, phụ lục 11)

Sơ đồ 22:  Nhà bán sỉ và mối quan hệ trực tiếp
Trong hệ thống phân phối rau an toàn tp HCM, ngoài 1 số chợ sỉ ở thành phố Hồ Chí Minh (vẫn coi như là các thương lái), chỉ có hệ thống bán sỉ hiện đại Metro có các hình thái hoạt động cung cấp rau quả cho các nhà hàng, khách sạn và các khách hàng mua lẻ.
Về hình thức, Metro một phần hoạt động giống như các công ty rau quả, phần còn lại giống như chức năng một siêu thị. Do vậy, sự nghiên cứu tổng hợp chung về công ty rau quả và siêu thị cũng sẽ phản ánh cho mô hình này.
Tuy nhiên, so với các công ty rau quả hay các siêu thị khác, Metro có những điều kiện nhất định để thực hiện vai trò như một người bán sỉ. Metro có hệ thống 1 khách hàng rộng lớn và có khả năng cung cấp một số lượng lớn rau an toàn cho khách hàng khi được yêu cầu. Metro còn có hệ thống vận chuyển bằng xe lạnh cho khách hàng (17 – 180C) đảm bảo chất lượng hàng luôn được tươi ngon trong quá trình vận chuyển.

4. Người bán lẻ/ siêu thị (hình 23,24 phụ lục 11)
4.1 Đặc điểm chung
Người bán lẻ buôn bán quanh năm, thường thu mua những sản phẩm từ công ty, nông dân hay thương lái. Rất nhiều những người bán lẻ tự sản xuất và tự tiêu thụ sản phẩm của mình (nông dân).Thông thường họ tập trung tại chợ hoặc các cửa hàng. Ngoài ra các chuỗi siêu thị trong thành phố cũng là những nhà bán lẻ hiện đại.
v      Người bán lẻ tại chợ, cửa hàng (hình 23, 24, phụ lục 11) thông thường quy mô nhỏ, chỉ từ 1-2 nhân công, kinh doanh bao gồm nhiều chủng loại rau quả, trong đó có rau an toàn và cả rau bình thường (không an toàn). Thông thường rau an toàn chiếm khoảng 20 -30 % trong sạp hàng của họ. Doanh số trung bình từ 50,000 đ – 500,000 đ/ngày cho sản phẩm rau an toàn (kết quả phỏng vấn người bán lẻ do Axis thực hiện).
v      Người bán lẻ là các siêu thị (hình 14, phụ lục 11) vì Rau an toàn là một bộ phận của rau quả nên các siêu thị thường có số nhân công nhiều hơn. Một nhóm quản lý từ 2-3 người hoặc nhiều hơn. Nhìn chung lượng rau an toàn được bày bán tại các siêu thị nhiều hơn so với các điểm bán lẻ khác. Một số siêu thị như Coopmart, Cora, Maximart cho biết do nằm trong cả một hệ thống nên lượng rau an toàn không thu mua trực tiếp mà nhập hàng từ trung tâm thu mua chính của siêu thị mẹ. Còn một số khác cho biết siêu thị chỉ có trách nhiệm quản lí chứ không trực tiếp bán hàng*, vì vậy họ không nắm rõ doanh thu.

4.2 Sơ chế
Khi bán cho người tiêu dùng ở chợ hay các điểm nhỏ lẻ thì mức độ sơ chế, đóng gói, dán nhãn ít hơn (hình 9, phụ lục 11). Đối với các khách hàng còn lại đều phải thực hiện kĩ lưỡng hơn, phương thức cũng giống như cách thức đã trình bày ở những phần trên. Tuy nhiên ở một số nơi, trình tự của các công đoạn có một chút khác biệt:
Sơ đồ 23: Quy trính sơ chế tại một số điểm bán lẻ tiêu biểu
a/ Metro, Coopmart
Cắt gốcàđể lên trên kệàchọn muaàbao bì(có nhãn) à cân

b/ Siêu thị Miền Đông, Maximart)
Cắt gốcà cânàvô bao bì (nilon, bao xốp)à dán nhãn, giáàbày bán

Theo người bán lẻ trong quy trình này hao hụt không nhiều vì đa số rau đã được người bán sơ chế trước đó. Đa số các nhà bàn lẻ đều cho rằng hao hụt này khoảng 2-5%. Cá biệt lên tới 10%. Nếu giao hàng quy cách khác yêu cầu giao hàng, người bán lẻ tự trừ trọng lượng khi tính tiền.

__________________________________________________________________________ * Công ty cung cấp trực tiếp bán hàng như công ty Vy Vy, công ty Sao Việt

 4.3 Đóng gói: (xem phần sơ đồ trên).
Có hai dạng đóng gói chính (hình 14, phụ lục 11):
1 - Bao ni lông hoặc bao xốp
2- Không đóng gói để tự khách hàng cân
4.4 Dán nhãn và chứng thực
Đa số  người bán lẻ rau an toàn với qui mô nhỏ không dán nhãn lên sản phẩm.
Một số lí do như: họ đóng vai trò của một người bán lại nên cho rằng việc dán nhãn thuộc trách nhiệm của nhà cung cấp, một số người khác cho rằng người mua đã biết họ lấy hàng từ đâu nên không cần dán nhãn.
Tuy nhiên một số cửa hàng bán lẻ như Công Ty Rau Quả  Sao Việt cho biết 80% rau tại các cửa hàng của công ty Sao Việt có dán nhãn của công ty (hình 23, phụ lục 11), không phải nhãn của hợp tác xã rau an toàn (nguồn: kết quả phỏng vấn người bán lẻ/ siêu thị do Axis thực hiện)
Đa số người bán lẻ chợ hoặc cửa hàng nhỏ được hỏi cho rằng sản phẩm của họ bán không được chứng thực chất lượng. Họ chỉ cần dựa vào kinh nghiệm để xác định đó có phải là rau an toàn hay không hoặc do biết rõ nguồn hàng mà không cần kiểm tra.
Nhà bán lẻ có chứng thực chất lượng chỉ khi cấp cho các siêu thị, Metro, các công ty để cung cấp cho các nhà hàng, khách sạn, nhà trẻ. Chứng thực này do sở nông nghiệp thành phố hoặc chi cục BVTV cấp. (nguồn: phỏng vấn các hợp tác xã do Axis thực hiện)
4.5 Tồn trữ, bảo quản
Đa số người bán lẻ không tồn trữ sản phẩm.
Người bán lẻ tại chợ: Người bán lẻ liên tục phun nước làm tươi rau nên hao hụt của người bán lẻ tại chợ ít bị mất (do lượng nước phun nhiều và số lượng hàng ít, chỉ đủ bán trong ngày).
Siêu thị: Họ thường chỉ  bán trong ngày. Cuối ngày thường đem bỏ hoặc còn dư mà không hư héo thì cho nhà chùa hoặc trả về công ty (nguồn phòng vấn chuyên sâu các siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh). Theo siêu thị Coopmart Thắng Lợi cho biết họ không bảo quản rau vì họ chỉ bán rau an toàn với số lượng nhỏ, chủ yếu là để đa dạng hóa sản phẩm, tiêu thụ hết nên không cần hệ thống bảo quản.
Một số cửa hàng, siêu thị do có phương pháp tồn trữ lạnh nên có thể tồn được tối đa 2 ngày (như Maxximart và Cora An Lac). Tuy nhiên rau tồn trữ phải sơ chế lại, loại bỏ những lá héo hay dập nát. Tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn này rất đa dạng tuỳ theo lượng hàng còn tồn đọng, Đối với siêu thị, nếu rau bán trong ngày không hết, siêu thị phải tồn trữ sang ngày hôm sau thì hao hụt tồn trữ khoảng 3-5%/ngày. (Con số này sẽ gấp đôi, hoặc hơn cho đến ngày thứ hai). Tuy nhiên theo con số thống kê của chúng tôi khi rau bị loại bỏ quá 30 - 35% thì xem như rau cần phải huỷ. (nguồn phỏng vấn chuyên sâu các siêu thị)
4.6 Vận chuyển
Vận chuyển hàng từ người bán đến người bán lẻ: Có trường hợp người bán lẻ tại chợ thường tự đến nơi thu mua để vận chuyển hàng còn tại các siêu thị thì người bán (thương lái – hợp tác xã) tự chuyển hàng đến. Phương tiện vận chuyển rất phong phú: xe đạp, xe máy, hoặc xe tải (xe tải thường được các thương lái hoặc các công ty sử dụng để giao hàng) (hình 18, phụ lục 11).
Vận chuyển hàng từ  người bán lẻ đến khách hàng: có trường hợp người bán lẻ giao hàng đến tận nhà của khách hàng (Coopmart. ….) nhưng cũng có trường hợp khách hàng tự đến mua. Phương tiện phổ biến là xe máy. Công ty rau quả có xe tải để giao cho khách hàng. Tóm lại, họ có thể giao theo tuyến bằng xe tải hoặc giao bằng xe máy. (xem hình 18, phụ lục 11)

Nhìn chung người bán lẻ cho rằng họ không gặp nhiều khó khăn trong quá trình vận chuyển. Tuy nhiên cách đóng gói khi vận chuyển khiến cho rau dễ bị dập gãy khi thời tiết xấu hoặc khi đi xa. Để tránh hao hụt họ thường rất chú ý đến cách sắp xếp khi vận chuyển: để những mặt hàng non, dễ gãy lên trên, ví dụ cải ngọt để trên cùng, rau muống để ở dưới. Ngoài ra phần lá thường được sắp xếp phía trong, cọng phía ngoài nếu đóng gói bằng cần xé. Vì khoảng cách vận chuyển không xa lại biết cách sắp xếp rau hợp lí nên hau hụt trong vân chuyển rất ít (1 – 2 %), tùy theo phương tiện và khoảng cách. (nguồn phỏng vấn chuyên sâu người bán lẻ/ siêu thi)
4.7 Khách hàng
Khách hàng của người bán lẻ là người tiêu dùng. Ngoài ra một số lượng lớn cấp cho các khách sạn, nhà hàng, quán cà phê, căng tin, các nhà trẻ....cùng mục đích phục vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.
Do các khách hàng khác nhau nên yêu cầu sơ chế, quy cách sản phẩm cũng khác nhau. Nhìn chung khi giao hàng cho các đơn vị như nhà trẻ, căng tin, nhà hàng rau đều phải được sơ chế sẵn, sạch sẽ.
4.8 Phương thức giao dịch và hợp đồng
Phương thức giao dịch phổ biến giữa người bán lẻ với nông dân thông qua hợp đồng miệng.
Khi giao dịch với các khách hàng lớn người bán lẻ cũng có kí hợp đồng. Ví dụ khi giao dịch với nhà trẻ, hợp đồng có nội dung như sau: cung cấp đúng rau an toàn có nguồn gốc từ Củ Chi, thanh toán từ 7- 15 ngày lần, thời hạn 12 tháng. (xem nội dung hợp đồng ở phần trên).
4.9 Lợi nhuận
Tuỳ theo vị trí cửa hàng, vị trí chợ mà giá bán có thể khác nhau dẫn tới lợi nhuận khác nhau.
Càng gần trung tâm, giá bán càng cao. Siêu thị và các cửa hàng có giá bán cao nhất. Lợi nhuận của các cửa hàng này lên tới 40% - 50%.
Tuy nhiên theo các công ty rau quả, lợi nhuận ròng sau thuế chỉ vào khoảng 5%-6%. Các nhà bán lẻ tại chợ gần khu vực trồng trọt bán giá càng rẻ, lợi nhuận tổng trung bình từ 10% - 15%.
4.10 Vệ sinh an toàn thực phẩm
Các siêu thị, nhà hàng, khách sạn, đơn vị tiêu thụ đều có ràng buộc rằng nếu khách hàng bị ngộ  độc thực phẩm thì trách nhiệm thuộc về nhà cung cấp rau an toàn cho họ ( Hợp tác xã, công ty cung cấp, thương lái…)

4.11 Những khó khăn chính và Hướng khắc phục
Khó khăn
Hướng khắc phục
Đóng gói, dán nhãn hàng: Đa số người bán cho người bán lẻ không quan tâm đến chứng thực chất lượng, nhãn hiệu hàng hoá, đóng gói sản phẩm. Trong khi đó người bán lẻ phải lo đóng gói, dán nhãn để bán hàng cho người tiêu dùng nên mất thời gian và cả hao hụt khi đóng gói, dán nhãn.
Quảng bá rau an toàn: Tại các điểm bán lẻ, không có hình thức nào quảng cáo, chuyển tải rau an toàn tới người tiêu dùng (Vì sản phẩm không dán nhãn mác)
Giá: Giá bán tại các cửa hàng đều cao do tính chất bảo quản, trưng bày, thuê địa điểm kinh doanh.. trong khi người tiêu dùng tại chợ chưa ý thức được sản phẩm chất lượng và giá tương ứng
Kiến thức: Đa số người bán lẻ đều thiếu kiến thức về các mặt sau:
+ Kiến thức bảo quản, đóng gói, nhãn hiệu và thông tin cho khách hàng
+ Kiến thức vệ sinh an toàn
+ Kiến thức thu thập thông tin thị trường
+ Kiến thức quản lí khách hàng, hợp đồng ràng buộc

à Quy định tất cả rau an toàn lưu hành đều phải có đóng gói, nhãn hiệu, xuất xứ, nếu không có thì không được công nhận là rau an toàn. Theo quy định của nhà nước trách nhiệm đóng gói bao bì nhãn hiệu phải là người nông dân, hợp tác xã, các công ty thu mua rau an toàn. Trách nhiệm của người bán lẻ là giám sát việc xuất xứ hàng hoá, chứng nhận chất lượng và hiển nhiên, họ phải chịu trách nhiệm trước khách hàng của họ. Vì vậy, cần thông báo đại chúng về quy định này để họ nhận biết.
à Quảng bá trên thông tin đại chúng về rau an toàn và khuyến khích sử dụng rau an toàn có nhãn mác, xuất xứ.

à Vận động, thiết lập các điểm bán rau an toàn tại các chợ trong thành phố để rau an toàn đến mọi nơi phục vụ người dân với giá tốt nhất (không đóng tiền chỗ, miễn giảm thuế v.v)
à Cần huấn luyện người bán lẻ hiểu về ích lợi của việc bán và tiêu thụ rau an toàn, vệ sinh an toàn, và các kiến thức bảo quản, quản lý khách hàng, hợp đồng. Ngoài ra cần giúp họ nắm vững các chính sách đ, yên tâm về tương lai của việc bán rau antoàn đến người tiêu dùng.

5. Nhà Chế biến – Xuất khẩu (hình 25, phụ lục 11)
Sơ đồ 24: Công ty/ cơ sở chế biến
5.1  Đặc điểm chung
Phần lớn các sản phẩm rau được chế biến đều phục vụ cho xuất khẩu. Tuy nhiên sản lượng xuất khẩu không nhiều, riêng rau Hồ Chí Minh xuất khẩu sản lượng không quá 1% (nguồn: sở NN- PTNT)
Hiện nay ngành chế biến rau củ đang là một lĩnh vực mới, còn đương đầu với nhiều thử thách. Giá trị xuất khẩu của rau củ chế biến cũng thấp hơn nhiều so với hàng hải sản chế biến, vì vậy nhiều cơ sở chế biến cho rằng đây là một ngành kinh doanh khó khăn.
Sau đây là một số thông tin về chế biến từ nguồn phỏng vấn chuyên sâu công ty Cofidec (Costal Fisheries Development Corporation Ho Chi Minh City – Viet Nam), là công ty xuất khẩu rau quả lớn tại TP.HCM (Xem Danh sách các công ty chế biến tại phụ lục 4).
Công ty Cofidec vẫn là công ty xuất khẩu hải sản chính, chỉ có 20% là xuất khẩu rau củ bao gồm cà tím, khổ qua, đậu bắp.. v.v rất ít rau xanh*.
5.2  Nguyên liệu thô và nguồn cung cấp
Công ty tự trồng hoặc đặt hàng lại cho thương lái hoặc nông dân trồng tại thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh khác như Tây Ninh, Đà Lạt, các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
5.3  Phân loại
Sau khi sản phẩm thu hoạch được vận chuyển về công ty, công nhân bắt đầu phân loại chất lượng và kích cỡ để phù hợp với các mặt hàng khác nhau.Trọng lượng căn cứ vào yêu cầu thành phẩm.


__________________________________________________________________________________* Hiện tại rất ít rau xanh được xuất khẩu, do công nghệ chế biến chưa đạt yêu cầu (nguồn Cofidec)

5.4 Cách Chế biến: Đa số các sản phẩm rau, củ được chiên, luộc, hoặc hấp lên, sau đó được đông lạnh. (hình 26, 27, phụ lục 11)
+ Cà tím: cắt à chiênà đông lạnh à đóng gói
+ Đậu bắp: hấpà cắt hoặc để nguyênà đông lạnhà đóng gói
+ Khổ qua: luộcà đông lạnh
+ Ớt : Chiênà đông lạnh
5.5  Bảo quản, tồn trữ
Vì chế biến theo đơn đặt hàng nên các sản phẩm của Cofidec sau khi được chế biến sẽ được xuất đi ngay, ít khi tồn trữ thành phẩm hoặc thời gian tồn trữ ngắn.
Riêng rau củ là nguyên liệu thô sau khi được mua về, nếu không kịp chế biến, thì sẽ được bảo quản trong kho lạnh từ +10-15 độC.
5.6  Vận chuyển
Vận chuyển từ nơi trồng trọt đến công ty chế biến
- Rau từ nơi trồng trọt được vận chuyển đến nơi chế biến bằng xe tải (không lạnh).Cách vận chuyển này thường áp dụng cho khoảng cách vận chuyển gần. Công ty chế biến còn cấp cho nông dân những rổ vuông (bằng nhựa) để đựng rau. Khi vận chuyển, các rổ vuông này được xếp chồng lên nhau (hình 18, phụ lục 11)
- Cũng có một số trường hợp, công ty chế biến đảm nhận việc vận chuyển rau từ nông trường về nơi chế biến bằng xe tải lạnh (+10-15 độ) .
Vận chuyển thành phẩm từ công ty chế biến đến nước xuất khẩu:
Sản phẩm thường được vận chuyển bằng đường biển được giữ lạnh trong suốt quá trình vận chuyển. Thời gian vận chuyển khoảng 10 ngày.
5.7  Hao hụt
Trung bình hao hụt ở khâu thu hoạch là 10%, nhưng cũng có khi lên đến 50% do thời tiết xấu, gặp mưa, bão. Hao hụt ở các khâu phân loại, sơ chế, chế biến: tối đa 30% (Nguồn: Phỏng vấn chuyên sâu công ty Cofidec).
5.8  Đóng gói, nhãn hiệu, chứng thực
Đóng gói:
Thành phẩm thường được đóng gói theo yêu cầu của khách hàng. Thông thường, các công ty chế biến sử dụng bao bì chứa được khoảng 1 kg hoặc 0.5 kg thành phẩm, loại bao bì PA hoặc PE*. Sau khi được đóng gói vào bao bì, thành phẩm còn được cho vào thùng carton, rồi mới được vận chuyển đi.
Nhãn hiệu:
Hiện tại, một số công ty chế biến có dán nhãn hiệu của mình. Tuy nhiên hầu hết các công ty chế biến khi bán thành phẩm ra thị trường nước ngoài thường ‘chịu’ bị dán nhãn hàng hóa của công ty nhập khẩu nước đó. Mặc dù vậy,  trên bao bì luôn có ghi ngày sản xuất và mã vạch để tiện truy cứu trong trường hợp sản phẩm không đảm bảo các qui định.*
 Chứng thực:
Sản phẩm của công ty Cofidec được Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật Thành phố chứng nhận (Phyto Certificate)

___________________________________________________________________________*Bao bì được yêu cầu phải làm từ những chất liệu cho phép nhập khẩu vào các nước nhập khẩu. Bao bì phải được nước nhập khẩu xác nhận cho phép thì công ty chế biến mới được phép sử dụng (nguồn phỏng vấn chuyên sâu công ty Cofidec)
**Ngay Cofidec mặc dù trên các chứng từ đều ghi tên công ty sản xuất nhưng khi bán ra thị trường Nhật tất cả sản phẩm của công ty được dán nhãn hiệu của Nhật. Duy nhất trên bao bì được in “Sản xuất tại VN” và mã vạch của sản phẩm (barcode).
5.9  Hợp đồng và thỏa thuận
Chất lượng của sản phẩm được qui định trước và áp dụng cho tất cả các hợp đồng. Còn số lượng và đơn giá sẽ tùy thuộc vào thỏa thuận ở từng hợp đồng/đơn hàng.
Thanh toán chủ yếu theo phương thức L/C tín dụng thư. Thời gian giao hàng đến lúc thanh toán: 30, 60, hoặc 90 ngày tùy theo thỏa thuận trong hợp đồng.
5.10          Lợi nhuận
Xuất khẩu rau chế biến đạt lợi nhuận không cao. Theo công ty Cofidec, lợi nhuận của rau chế biến xuất khẩu chỉ khoảng 5%.
5.11          Những khó khăn và hướng khắc phục
Khó khăn
Hướng khắc phục
Trồng trọt:
Việc trồng trọt gặp nhiều khó khăn vì phụ thuộc vào khí hậu và chịu ảnh hưởng của sự thay đổi bất thường của thời tiết. Thật vậy, như đã đề cập ở phần nội dung về nông dân, tỉ lệ hao hụt cao  vào mùa mưa vì rau bị ngập úng, hư thối.
Trình độ kỹ thuật trồng trọt còn hạn chế, đặc biệt là việc khống chế dư lượng thuốc trừ sâu theo yêu cầu của khách hàng.
Khách hàng: Thực tế cho thấy nhà nhập khẩu (vì dụ từ Nhật) luôn có những đòi hỏi rất khắc khe từ mẫu mã cho đến chất lượng sản phẩm. Yêu cầu của nước nhập khẩu cao so với trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ chế biến của các công ty chế biến Việt Nam, do các công ty chế biến Việt Nam chưa đáp ứng được tất cả các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nhập khẩu (ví dụ nhà nhập khẩu Nhật đòi hỏi rửa một cái thớt cũng phải theo qui trình bảo đảm an toàn vệ sinh).
Chi phí: Chi phí chế biến tăng, đặc biệt là chi phí vận chuyển vì giá dầu thế giới tăng trong khi giá cả bán ra của thành phẩm tại thị trường một số nước (chẳng hạn Nhật) không tăng.


Nhãn hiệu: Hiện nay, hầu hết các công ty chế biến rau tại TP.HCM đều chưa có thương hiệu riêng, mà sử dụng thương hiệu của nhà nhập khẩu. Về lâu dài, thì điều này là một bất lợi cho nhà xuất khẩu vì trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, tính thương mại và cạnh tranh rất cao, nếu không xây dựng thương hiệu và bảo vệ thương hiệu của mình thì sẽ có nguy cơ cao bị mất chổ đứng trên thị trường   

à Như đã đề cập ở phần nội dung về nông dân, hướng giải quyết được đề nghị là trang bị nhà lưới để bảo vệ rau. 


à Cần hổ trợ tập huấn phương pháp trồng trọt rau an toàn đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.   

à Hỗ trợ các lớp tập huấn (trong và ngoài nước) về quy trình trồng trọt, công nghệ chế biến hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế.





à Hỗ trợ đầu tư công nghệ hiện đại thay thế cho trang thiết bị lạc hậu để có năng suất cao, chi phí thấp.
à Trong tình trạng giá xăng dầu đang tăng cao, các công ty xuất khẩu nên chào giá lại đối với những đơn đặt hàng mới nhưng chỉ nên tăng ở mức nhẹ để giữ tính cạnh tranh.

à Xây dựng nhãn hiệu
à Thúc đẩy các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu cho các thị trường mới



6. Người tiêu dùng (end-users)
Người thường xuyên dùng rau sạch không nhiều, chủ yếu thông qua các kênh siêu thị, cửa hàng rau trên đường tại các thành phố chính. Chủng loại rau, củ mà họ mua tương đối đa dạng như: xà lách, rau thơm, rau cải, rau dền, mồng tơi, bồ ngót, rau muống, bắp cải, khổ qua, cà rốt.. chủ yếu là nhữnt loại do các cơ sở này cung cấp.
6.1 Quan niệm và thái độ của người tiêu dùng đối với rau an toàn
Nhìn chung, nhận thức của người tiêu dùng về rau an toàn còn hạn chế, chủ yếu thông qua ‘cảm nhận’ từ hình thức. Từ kết quả nghiên cứu thảo luận nhóm trong người tiêu dùng (Axis 2005) sau đây là nhận xét và đánh giá về sự khác biệt giữa ‘rau an toàn’ và ‘không an toàn’ theo người tiêu dùng thành phố HCM.
Bảng 12: Nhận thức của người tiêu dùng về rau an toàn và không an toàn
Khái niệm
Đặc điểm
Lí do
Rau không an toàn
Trông xanh mượt, bóng láng
Xịt thuốc nhiều nên tươi tốt
Có mùi hắc
Dư lượng thuốc trừ sâu trên lá nên có mùi hắc
Rau an toàn
Trông sạch sẽ, tươi, nhưng không xanh mướt
Không xịt nhiều thuốc
Không có mùi hắc
Được bó, hoặc đóng gói gọn gàng
Đã được sắp xếp, kiểm tra trước khi bán
Không có sâu
Có nhà lưới bảo vệ, được tỉa bỏ kĩ lưỡng.
Như vậy, theo kết quả trên đây, nguồn gốc, nhãn hàng chưa được người tiêu dùng đưa ra như là 1 tiêu chuẩn ‘tiên quyết’ về rau an toàn. Sự phân biệt giữa rau an toàn và không an toàn vẫn chưa hoàn toàn được rõ ràng, chỉ dựa trên cảm nhận là chính.
6.2 Thói quen mua và tiêu thụ
Người tiêu dùng thường mua rau để dùng hàng ngày. Trung bình mỗi lần người tiêu dùng mua không nhiều: 0.5 đến 2 kg (cho một hộ gia đình)
Đa số người tiêu dùng mua rau ở chợ nên họ không quan tâm đến xuất xứ hoặc nhãn hiệu của sản phẩm. Tại đây,  họ thường xuyên mua rau của một người bán quen và tin tưởng vào chất lượng của người bán này. Theo họ, chất lượng sản phẩm được đánh giá là đạt nếu dùng không bị ngộ độc hoặc xảy ra bất cứ triệu chứng gì bất thường*. Một số người tiêu dùng mua rau ở chợ cho biết người bán rau ở chợ cũng có phân loại hàng khi bán theo rau loại 1, loại 2.**
Nhìn chung, người tiêu dùng khá hài lòng đối với nơi mà họ thường xuyên mua rau hiện tại. Các lí do chính của sự hài lòng này là do người bán vui vẻ, nhiệt tình, giá cả hợp lí, và rau tươi.
Một số người tiêu dùng trong thảo luận nhóm do Axis thực hiện cho biết khi mua rau an toàn (tại siêu thị) một số các khách hàng có chú y đến xuất xứ hoặc nhãn hiệu của sản phẩm. Thông thường rau an toàn của hợp tác xã Tân Phú Trung được một số người biết.

__________________________________________________________________________________ * Việc ngộ độc rau hay các triệu trứng không được người tiêu dùng đề cập => nhận thức về tác hại lâu dài của rau không sạch chưa được họ quan tâm đúng mức
** Rau không dập, tươi, đều bó được coi là loại 1. Loại 2 là rau kém chất lượng hơn.
6.3 Những yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua rau:
a)      Gần nhà (tiện lợi)
b)      Người bán quen, vui vẻ, đáng tin cậy
c)      Sản phẩm đảm bảo chất lượng (tươi, xanh, trông ngon)
d)      Giá rẻ
Khi được hỏi về ích lợi của rau an toàn, hầu hết người tiêu dùng cho chung nhận xét về rau (nói chung) như bổ dưỡng, cung cấp vitamin, có chất xơ, chất khoáng v.v. Tuy nhiên, như trên đã đề cập, nhận thức về các tác hại của rau không an toàn lên sức khỏe chưa cao, chủ yếu ‘nếu’ có tác hại/ngộ độc sau khi sử dụng, mà tác hại của rau sau sử dụng thường không thấy ngay lập tức như thịt cá ôi thiu v.v. (Nguồn: Axis 2005).

 6.4. Những khó khăn và hướng kiến nghị

Khó khăn
Hướng kiến nghị
Mức độ hiểu biết về rau an toàn của người tiêu dùng vẫn chưa thấu đáo, còn hạn chế, chỉ tập trung vào vấn đề “ngộ độc thực phẩm”. Việc nhận biết rau an toàn cũng chỉ dựa vào hình thức, chưa có kiến thức để xác định.
Nhiều người tiêu dùng ở thành phố Hồ Chí Minh muốn ăn rau an toàn nhưng không biết mua ở đâu và giá nào là hợp lí (vì giá bán của rau an toàn tại những điểm bán thường cao hơn rau bán ở chợ (khoảng 30%, mà không rõ có hoàn toàn an toàn không?).
Tại các chợ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, rau không an toàn vẫn được bày bán lẫn với rau an toàn, nên người tiêu dùng rất khó phân biệt.
à Rau an toàn cần có bao bì, nhãn hiệu để phân biệt với rau không an toàn (bắt buộc).
à Cần phải quảng bá rộng rãi về rau an toàn và lợi ích của rau an toàn cho người tiêu dùng trên các phương tiện thông tin đại chúng
->Cần có các biện pháp kiểm soát & phạt đối với các điểm bán giả mạo rau an toàn, các quy định về trách nhiệm của người bán đối với chất lượng sản phẩm bán ra.
à Thiết lập hệ thống phân phối rau an toàn rộng rãi hơn với chế độ giá hợp lý.


7. Vai trò các tổ chức lên chuỗi giá trị rau an toàn thành phố HCM
Đối với rau an toàn tp HCM, vai trò của các tổ chức, các sở, ban, ngành trong việc sản xuất rau an toàn thành phố Hồ Chí Minh như UBNDTP, Sở NN & PTNT, Trung Tâm Khuyến Nông, Chi Cục Bảo Vệ thực Vật, Trường đại học Nông Lâm là khá quan trọng.
7.1.      Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố
Uỷ ban là cấp cao nhất định hướng phát triển cho sản xuất rau an toàn tại Thành phố. Hiện tại UBND thành phố đang phát triển một chương trình qui mô lớn qui hoạch vùng rau an toàn (400 ha) để nâng cao lượng cung ứng rau an toàn cho thành phố đến 2010 đạt 70% (tăng hơn gấp đôi lượng cung ứng hiện tại).
7.2    Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Phối hợp Sở Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường, Sở y tế và Sở Thương mại, sở NN & PTNT đóng vai trò chủ quản về “ Rau an toàn” của Thành Phố. Sở đã và đang phối hợp với các cơ quan từng bước quy hoạch, kế hoạch sản xuất, tổ chức tập huấn các quy trình cụ thể cho từng cây rau… Sở là đơn vị quản lý và thực hiện các chỉ thị của Uỷ ban, và điều phối cho các ban ngành liên quan trực tiếp như TTKN. Riêng tại sở NN & PTNN thành phố đã có phòng thương mại, tuy việc họat động còn chưa được mạnh mẽ như phòng thương mại trực thuộc Bộ thương mại, chưa quản lI hết được các khâu trung gian, kinh doanh rau quả trên địa bàn thành phố.
Các Trung Tâm Khuyến Nông trực thuộc Sở đã cùng các cán bộ kỹ thuật chịu trách nhiệm trong việc thiết lập quy trình trồng rau an toàn, cấp chứng nhận rau an toàn, tổ chức kiểm tra, đánh giá và công nhận chất lượng sản phẩm cho các cơ sở sản xuất. Ngòai ra, trung tâm còn tổ chức huấn luyện, chuyển giao kỹ thuật, giới thiệu giống, hỗ trợ nhà lưới, phương pháp phòng ngừa sâu bệnh…Bên cạnh đó, việc thiết lập các hợp tác xã tiêu thụ, tổ sản xuất rau an toàn quản lý tập trung và tìm đầu ra cho nông dân cũng được TTKN và sở NN đang quan tâm. Tuy nhiên, việc tổ chức các chương trình quảng cáo, tiếp thị vẫn còn hạn chế mặc dù đã có một số họat động như mở hội chợ rau an toàn nhằm quảng bá sản phẩm.
Ngòai các họat động trên đây, sở NN và PTNT còn kết hợp khá chặt chẽ với các viện nghiên cứu, trường đại học Nông Lâm nhằm cải thiện chất lượng rau, quy trình trồng trọt nâng cao năng suất trồng trọt và mở rộng giống cây trồng mới.
7.3  Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật
Để có công cụ kiểm tra chất lượng rau sản xuất và lưu thông trên thị trường, trong năm 1999 – 2001, Chi Cục Bảo Vệ Thục Vật Thành Phố đã phối hợp với Phân Viện Công Nghệ Sau Thu Hoạch đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Phương pháp sinh học phân tích nhanh dư lượng thuốc trừ sâu”. Ứng dụng kết quả đề tài này, một phòng phân tích nhanh dư lượng thuốc trừ sâu của Chi Cục BVTV được trang bị để thực hiện phân tích mẫu rau phục vụ cho công tác quản lý rau an toàn của Sở Nông Nghiệp. Chi Cục cũng là nơi cấp chứng nhận chất lượng rau an toàn.
7.4  Sở Thương mại
Sở thương mại có trách nhiệm quản lý toàn bộ hệ thống lưu thông phân phối rau an toàn, quản lý các đơn vị kinh doanh. Tuy nhiên việc quản lí các đơn vị kinh doanh và đặc biệt giúp đỡ các đơn vị như thiết lập hệ thống thương lái cho thành phố cho đến nay vẫn còn nhiều bất cập.
7.5  Các Viện nghiên cứu, trường đại học
Viện Nghiên cứu sau thu hoạch, Trung tâm nghiên cứu khoa học kĩ thuật khuyến nông thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm chuyển giao kĩ thuật nông nghiệp thành phố, trường đại học Nông Lâm là các đơn vị có chức năng hỗ trợ kỹ thuật trồng trọt, thu hoạch và sau thu hoạch đều đã có những đóng góp không nhỏ vào công việc phát triển trồng trọt, thu hoạch và chế biến rau an toàn của thành phố HCM. Tuy nhiên, các đơn vị này phần lớn vẫn chú trọng vào việc giúp đỡ người nông dân đến khâu thu hoạch nhiều hơn là khâu sau thu hoạch, và tập trung nhiều vào trái cây, và lúa gạo hơn là rau củ, một phần do rau củ của thành phố còn chưa đủ lượng đáp ứng nhu cầu ăn tươi của thành phố, một phần do sản phẩm chế biến rau củ cũng không được đa dạng bằng trái cây, và một phần khác do thiếu vốn và nhân sự đang cần thêm sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế.

IV. PHÂN TÍCH ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI, VÀ THÁCH THỨC CỦA RAU AN TOÀN TẠI TP.HCM
Sau đây sẽ là bảng phân tích, tổng kết các điểm mạnh yếu, cơ hội và thách thức cho rau an toàn của thành phố Hồ Chí Minh.
1.Điểm mạnh, điểm yếu

Điểm mạnh
Điểm yếu
Giống
- Giống rau trên địa bàn thành phố là những giống rau truyền thống, người dân có nhiều kinh nghiệm trồng trọt, và chống bệnh.
- Chủng loại rau chưa đa dạng (chủ yếu là rau xanh, nấm..).
-Qui trình sản xuất rau an toàn cũng chỉ mới được ứng dụng đối với các giống truyền thống (không giống như Đà Lạt, áp dụng kỹ thuật trồng rau an toàn cho các giống mới: bắp cải tím, súp lơ xanh v.v.).
Đất đai, khí hậu
- Khí hậu thành phố Hồ Chí Minh  tương đối ổn định với hai mùa rõ rệt, ít gặp thiên tai, là điều kiện lí tưởng để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất sạch.
 - UBND thành phố đã có quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn trên địa bàn thành phố.

- Đất đai thành phố mang đặc tính chuyển tiếp giữa miền đông nam bộ và đồng bằng sông Cửu long, độ phì nhiêu không cao.
- Là thành phố công nghiệp, đông dân cư nên đất đai thành phố chịu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường như: chất thải công nghiệp, giao thông, khu dân cư tập trung, bệnh viện, nghĩa trang…
- Đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa ở thành phố diễn ra quá nhanh
- Trang thiết bị bị cơ giới hoá chưa nhiều, nên nhiều khi người trồng rau chỉ làm đất đại khái nên ảnh hưởng đến chất lượng của vụ sau.
- Đối với các nông dân chưa vào hợp tác xã việc sản xuất còn manh mún làm cho việc ứng dụng  kĩ thuật mới, cơ giới hóa, thu mua hàng, ứng dụng kĩ thuật sau thu hoạch và vận chuyển trở nên khó khăn.
Chất lượng sản phẩm


- Nhìn chung kĩ thuật canh tác rau an toàn chưa cao, việc ứng dụng kĩ thuật canh tác mới còn chưa đồng bộ, nên chất lượng rau không đồng đều.
- Tập quán, thói quen canh tác sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật để rau sinh trưởng tốt, thu được lợi nhuận cao vẫn còn tồn tại, đặc biệt, trong những dịp lễ, tết. Chính vì vậy một số mẫu rau lấy từ vùng rau an toàn đôi khi vượt mức dư lượng thuốc trừ sâu quy định đối với rau an toàn (nguồn 14, phụ lục 10)  
- Chất lượng rau an toàn thành phố mới đáp ứng yêu cầu nội địa, chưa đáp ứng được các yêu cầu khắc khe theo tiêu chuẩn quốc tế
Giá cả
Giá thu mua rau an toàn cao hơn rau thường, mang lại lợi nhuận cao cho người trồng rau an toàn.
- Các Hợp tác xã, các tổ sản xuất chưa đảm bảo hết đầu ra cho sản phẩm nên một lượng rau không nhỏ ( khoảng 20%) người nông dân bán ra chợ lẻ với mức giá ngang với rau thường, đây là một thiệt thòi lớn đối với người nông dân trồng rau an toàn.
- Mặt khác, sự không phân biệt rõ ràng về rau an toàn và giá tương ứng trên thị trường khiến người tiêu dùng hoang mang vì bất kỳ rau nào được dán nhãn ‘ an toàn’ thì lập tức ‘được’ giá tăng hơn 20-50% (mà không được rõ thực sự có an toàn hay không)
Sản lượng



- Sản lượng rau an toàn Hồ Chí Minh còn thấp, chỉ mới đáp ứng được 30 % nhu cầu tiêu thụ của thị trường Hồ Chí Minh. Một lượng lớn sản lượng rau tiêu thụ tại TP.HCM là rau không an toàn hoặc do các tỉnh khác cung cấp.
- Rau an toàn chủ yếu được phân phối cho các khu vực tiêu dùng cao cấp như nhà hàng, khách sạn, quán ăn lớn, siêu thị, lượng tiêu thụ của người tiêu dùng bình thường là rất ít.
- Sản lượng rau chế biến, xuất khẩu dường như không đáng kể (~1%)
Qui trình sau thu hoạch

Mô hình hợp tác xã được tổ chức tương đối tốt với các điểm sơ chế tập trung, vận chuyển xe tải, nên đã giúp giảm bớt khâu hao hụt sau thu hõach
- Cơ sở vật chất cho các điểm sơ chế, đóng gói, bảo quản vẫn còn nghèo nàn, đôi khi vệ sinh còn kém.
- Mẫu mã bao bì, nguồn gốc xuất xứ ghi trên bao bì chưa được áp dụng tốt ở tất cả các thành phẩm.
- Thiếu kho để trữ, bảo quản hàng (ngoại trừ các siêu thị, các doanh nghiệp lớn),  nên mọi việc sơ chế, đóng gói, vận chuyển phải được làm nhanh, làm hết, làm cả ban đêm để có thể chuyển hàng đến cho khách hàng.  
- Công nghệ chế biến sản phẩm còn nghèo nàn về chủng loại, yếu về kỹ thuật.
- Thiếu nguồn nhân lực quản lí có trình độ, có kinh nghiệm.
Quan hệ trong chuỗi giá trị
Xây dựng được mô hình liên kết giữa người nông dân,  hợp tác xã, tổ sản xuất, các doanh nghiệp tiêu thụ, các cơ quan chức năng.
Các quan hệ này đang bắt đầu được xây dựng trên nền tảng pháp lý, có sự ràng buộc bằng tín chấp, sổ theo dõi (HTX, nông dân), giữa Hợp tác xã – doanh nghiệp đã có hợp đồng giấy.

- Các thành phần trong chuỗi chưa nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với chất lượng sản phẩm được đóng gói, dán nhãn nên việc thực hiện vẫn còn thiếu đồng bộ.
- Tuy các bên đã bắt đầu ký kết hợp đồng nhưng việc kí kết vẫn chưa được áp dụng rộng rãi
- Việc trao đổi thông tin giữa các thành phần trong chuỗi giá trị còn hạn chế.  (thông tin thị trường, thông tin quảng bá sản phẩm, thông tin phản hồi của người tiêu dùng v.v). Hầu như còn thiếu một sự khăng khít trong việc communication này
Sự quan tâm của các tổ chức
Mô hình sản xuất rau an toàn được nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm phát triển, đặc biệt đã áp dụng chương trình liên kết 4 nhà (nhà nông, nhà quản lí, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp)
 - UBND thành phố tiến hành qui hoạch vùng sản xuất rau an toàn tương đối bài bản.
-  Người nông dân trồng rau an toàn đã nhận được nhiều sự giúp đỡ như: hướng dẫn về kĩ thuật sản xuất rau an toàn, tìm đầu ra cho sản phẩm v.v,,, Riêng Chi cục Bảo vệ thực vật đã tổ chức rất nhiều lớp tập huấn kỹ thuật trồng rau an toàn cho nông dân và tổ chức giám sát, kiểm tra chặt chẽ.
- Việc quan tâm, hỗ trợ, kiểm soát còn chưa đồng bộ và chặt chẽ, nhất là trong công tác chứng nhận vùng rau an toàn.
- Công tác nghiên cứu thị trường, quảng bá sản phẩm chưa được đẩy mạnh.
- Hỗ trợ vốn còn hạn chế


 2. Cơ hội và thách thức

Cơ Hội
Thách Thức
Nhu cầu thị trường
- Nhu cầu tiêu thụ rau an toàn ngày càng cao, nhất là ở thành thị => có thể tăng sản lượng lớn
- Nhu cầu về chất lượng sản phẩm cao đi đôi với giá cao hơn được ngày càng nhiều người tiêu dùng chấp nhận => cơ hội tăng lợi nhuận cho các thành phần trong chuỗi nếu đảm bảo chất lượng sản phẩm
- Nhu cầu về nguồn nguyên liệu chế biến đúng yêu cầu xuất khẩu cũng tăng cao (các công ty chế biến).
Với qui mô và trình độ sản xuất hiện nay, rau an toàn Hồ Chí Minh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ nội địa, chưa nói tới xuất khẩu.
Sản phẩm
- Nhờ có sự nghiên cứu của các viện, sự hỗ trợ của các ban ngành có liên quan, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, rau an toàn Hồ Chí Minh là sản phẩm tiềm năng có cơ hội mở rộng diện tích, đa dạng về chủng loại và tăng năng suất hơn nữa
- Quy hoạch đô thị tại thành phố HCM khá phức tạp, đất trồng cho rau không nhiều, mặc dù có quy hõach nhưng việc thực hiện không dễ dàng
- Hình ảnh rau an toàn chưa được quảng bá rộng rãi, nhận thức về rau an toàn chưa cao ảnh hưởng đến mức độ sử dụng (nhất là người tiêu dùng bình dân)
Xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu rau an toàn rất lớn, đặc biệt qua các nước châu Á, và các sản phẩm chế biến sang các châu lục khác
- Chất lượng sản phẩm chế biến xuất khẩu chưa cao, khó cạnh tranh với các nước khác do chưa được đầu tư nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật trồng trọt và chế biến theo tiêu chuẩn quốc tế - Hầu hết các nhà máy chế biến rau, củ xuất khẩu đều thiếu nguyên lịệu do sản lượng rau an toàn đúng tiêu chuẩn để xuất khẩu còn ít.
- Chi phí chế biến đang lên cao, chủ yếu do gíá xăng dầu tăng nhanh.
- Rau Việt Nam phải chịu mức thuế suất cao khi xuất khẩu.
Thương hiệu,
 nhãn hiệu
- Đã có một số nhãn hiệu rau an toàn sản xuất tại TP.HCM được nhiều người tiêu dùng biết đến như: rau an toàn Tân Phú Trung, nấm an toàn Bảy Yết… Các hợp tác xã, các cơ sở sản xuất rau khác cũng đang trên đường xây dựng thương hiệu cho sản phẩm rau sạch của mình để khẳng định mình trong thị trường nội địa và tìm cơ hội xuất khẩu
- Hiện nay chương trình xúc tiến thương mại của thành phố kết hợp với báo Tiếp Thị Sài Gòn đang hỗ trợ bước đầu 20 doanh nghiệp làm thương hiệu một cách bài bản trong 2006, đây cũng là cơ hội tốt cho các HTX, doanh nghiệp về rau củ tại tp HCM được tham gia  vào chương trình này.

Nhận thức về tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu của các thành phần trong chuỗi còn yếu, một phần do chính bản thân doanh nghiệp chưa nỗ lực, một phần do các thành phần khác trong chuỗi, quan trọng nhất  sự chấp nhận của người tiêu dùng.
- Tiến hành việc xây dựng thương hiệu chậm trễ sẽ là một khó khăn cho chính các HTX, doanh nghiệp khi cạnh tranh trực tiếp với với các nhãn hiệu khác trên thị trường, đặc biệt trong việc xuất khẩu


V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
Phát triển nông nghiệp sinh thái nói chung và sản xuất rau sạch nói riêng, đang là một vấn đề lớn đặt ra cho nền khoa học, công nghệ Việt Nam. Vì vậy sản xuất rau sạch không chỉ là việc làm cấp thiết của người trồng rau Hồ Chí Minh mà còn là mối quan tâm chung của người dân cả nước. Hiện nay, mặc dù rau an toàn thành phố Hồ Chí Minh có một số thuận lợi so với các nơi khác như:
  1. Nông dân ngoại thành có truyền thống trồng rau lâu đời (Hóc Môn, Củ Chi…)
  2. Ñược sự quan tâm và ủng hộ của các Sở, Ngành, lãnh đạo thành phố cũng như các viện nghiên cứu, trường đại học trong chương trình phát triển rau an toàn
  3. Chương trình rau an toàn đã tạo nhiều chuyển biến tích cực trong sản xuất và tiêu thụ, tăng thu nhập cho người nông dân, giúp họ an tâm sản xuất và gắn bó với đồng ruộng.
  4. Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ rau lớn nhất trong khu vực, lại là nơi có thu nhập đầu người cao nhất nước, mức tăng trưởng GDP cũng lớn nhất => nhu cầu về rau củ ngày càng tăng  
  5. Thành phố Hồ Chí Minh và xung quanh thành phố cũng là nơi tập trung nhiều nhất các nhà chế biến (nói chung) và rau củ (nói riêng), với nguồn nguyên liệu được chở đến từ khắp nơi, là nơi xuất khẩu rau củ dễ dàng bằng nhiều con đường nhất: Đường thủy, hàng không, đường bộ
  6. Đây cũng chính là nơi giao lưu giữa các tỉnh miền Tây và đông nam bộ, cũng như miền trung và cao nguyên trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
Tuy nhiên, qua nghiên cứu này chúng tôi cũng nhận thấy ngòai những ưu điểm trên, rau an toàn Hồ Chí Minh còn khá nhiều khó khăn chính cần giải quyết:
  1. Hiện nay sản xuất rau an toàn còn mang tính chất sản xuất nhỏ chưa đủ cung cấp nên giá thành cao, chất lượng chưa ổn định, chưa có tính cạnh tranh bền vững.
  2. Các ứng dụng về cơ giới hóa trong canh tác, trồng rau có bảo vệ, trồng rau hữu cơ đã thử nghiệm ở mức mô hình nhưng chưa được ứng dụng rộng rãi.
  3. Khâu sơ chế, bảo quản của sản phẩm rau an toàn nhìn chung còn rất thô sơ. Ngoại trừ siêu thị và các doanh nghiệp lớn, hợp tác xã và nông dân không có trung tâm bảo quản (chưa có kho bảo quản lạnh) nên hao hụt qua các khâu đã ảnh hưởng nhiều đến lợi nhuận chung của từng thành viên trong chuỗi, ảnh hưởng đến giá bán cuối cùng.
  4. Vẫn còn rau an toàn bán ra thị trường không dán nhãn và nguồn gốc xuất xứ, lẫn lộn với rau không an toàn khiến gây không ít khó khăn cho ngừơi trồng và hoang mang cho người tiêu dùng
  5. Hiện nay rau an toàn chỉ mới kiểm tra được dư lượng thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ, Carbamate bằng 2 phương pháp kiểm tra nhanh cho các gốc thuốc trừ sâu và các bệnh khác; các gốc kim loại nặng và dư lượng nitrate nếu có, thì các phương pháp này thường có chi phí cao, thời gian cho kết quả lâu nên không khuyến khích được các doanh nghiệp tự kiểm tra và có biện pháp xử lí nhanh. Các phương pháp kiểm tra nhanh hiện nay chỉ có tính định tính khó làm cơ sở cho việc xử lí. Ngòai ra, việc kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu trên rau hiện nay chỉ dừng lại ở mức nhắc nhở, chưa có biện pháp xử phạt nghiêm khắc, nên vẫn chưa triệt để
  6. Việc kí kết hợp đồng còn nhiều bất cập, hợp đồng giấy vẫn chưa được sử dụng rộng rãi
  7. Do công tác trao đổi thông tin giữa các thành phần trong chuỗi còn hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến hiễu quả của chuỗi rau tp HCM, rõ ràng nhất là chất lượng sản phẩm và lượng rau hao hụt qua từng thành phần trong chuỗi giá trị.
Do các phân tích trên, chúng tôi nhận thấy chuỗi rau thành phố HCM cần có một số hướng khắc phục, như sau:

1. Tổ chức & hỗ trợ
  • GTZ nên phối hợp với  Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố thúc đẩy việc tổ chức vùng sản xuất rau an toàn tập trung, qui mô lớn theo đúng chương trình và quy hoạch đã đề ra.
  •  Tổ chức việc kiểm tra và tái chứng nhận vùng rau an toàn một cách thường xuyên, chặc chẽ, với kĩ thuật kiểm tra cao.
  • Hỗ trợ xây dựng và thực hiện những tiêu chuẩn rau an toàn theo tiêu chuẩn của các nước trong khu vực và trên thế giới, cũng như hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho các HTX, các đơn vị đạt tiêu chuẩn
  • Metro nên phối hợp với Sở Thương mại, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tái tổ chức hệ thống lưu thông phân phối rau của các công ty quốc doanh và tư nhân dưới sự giám sát chặt chẽ của một tổ chức đại diện.
    • Chương trình này nên bao gồm việc phối hợp với Sở Nông Nghiệp thành phố, Trung Tâm Khuyến Nông, các viện nghiên cứu tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn, các buổi trình diễn mô hình kĩ thuật tiên tiến nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của các đối tượng tới những tiến bộ kỹ thuật do nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông và các tổ chức quốc tế mang tới (xem phần Đào Tạo phía dưới), đồng thời tổ chức thí điểm những mô hình sản xuất tiên tiến cho các đơn vị khác đến thăm quan, học hỏi
    • GTZ và Metro có thể giúp hỗ trợ (một phần) kinh phí để mang các kỹ thuật viên nước ngòai, hoặc các đại diện nước ngòai đến giúp đỡ trực tiếp các cơ sở này tại VN
    • GTZ, Metro và các tổ chức quốc tế khác cần hỗ trợ kĩ thuật để việc bảo quản sản phẩm trong điều kiện thường, đặc biệt về việc tăng cường sản phẩm chế biến, cách thức bao bì và đóng gói sản phẩm và chuyên chở theo đúng qui cách nhằm giảm thiểu hao hụt trong từng khâu
§         Ngõai ra, việc tổ chức giúp đỡ nông dân, người kinh doanh và cán bộ khuyến nông trong việc thử nghiệm hệ thống thông tin thị trường, nối mạng internet v.v. cũng là một việc cẩn thiết trong thời đại thông tin hiện nay
  • Bên cạnh đó, GTZ nên phối hợp với một số công ty chuyên ngành về nghiên cứu thị trường, viện nghiên cứu, các tổ chức khác giúp ngành rau an toàn thành phố tìm hiểu kỹ và thường xuyên hơn nữa thị hiếu người tiêu dùng, nhằm đa dạng hóa sản phẩm nội địa và mở rộng thị trường xuất khẩu cho rau an toàn thành phố HCM.
  • Cuối cùng, cùng với việc hỗ trợ và tái tổ chức nói trên, GTZ và Metro nên cùng các cơ quan chức năng tiến hành các biện pháp xúc tiến thương mại, xây dựng và quảng bá thương hiệu một số sản phẩm rau sạch như nấm, rau cải, rau muống v.v  trong và ngoài nước.

2. Đào Tạo
  • GTZ và Metro nên mở các khóa đào tạo, cũng như các lớp tư vấn về các tiêu chuẩn cho rau an toàn một cách thích hợp (xem thêm phần Đào Tạo, rau Đà Lạt)
  • Phối hợp với Sofri hỗ trợ nông dân và các doanh nghiệp trong việc học tập và thực hiện sản xuất rau theo GAP
  • Cùng với chi cục bảo vệ thực vật mở các lớp tập huấn để giới thiệu và phổ biến những mô hình, phương pháp quản lí chất lượng  rau an toàn – ví dụ các phương pháp kiểm tra dư lượng độc chất: thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, chất điều hòa sinh trưởng...( của các nước)
  • Metro nên mở các lớp đào tạo ngắn và dài hạn tại địa phương về các kĩ thuật bảo quản, chế biến, đóng gói…theo yêu cầu của Metro và các thị trường khác (Châu Âu, Mỹ, Nhật v.v.).
  • Metro nên phối hợp với các cơ quan chức năng như sở Thương Mại, sở Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và các tổ chức liên quan phổ biến rộng rãi các hình thức hợp đồng trong phân phối nông sản.
Ngòai ra, trong phần tiếp sau đây về rau củ Đà Lạt (chương 4)., vùng rau lớn nhất cả nước, sẽ được chúng tôi sẽ đề cập đến một số hướng hỗ trợ đào tạo chi tiết, có thể tham khảo cho rau an toàn của thành phố HCM.
Phụ lục 9: Tp.HCM - Danh sách phỏng vấn chuyên sâu
STT
Họ tên
Đối tượng
Chức vụ
Địa chỉ/ nơi công tác
Điện thoại
1
Nguyễn Phước Trung
Chính quyền
Trưởng phòng Nông Nghiệp
Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn
0989757079
2
Chị Cúc
Chính quyền
Phòng Nông Nghiệp
Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn
8297580
3
Anh Ký
Chính quyền
Trưởng Phòng Kĩ Thuật
Trung Tâm Khuyến Nông
0903395616
4
Anh Lâm
Chính quyền
Trưởng Phòng
Viện Công Nghệ Sau Thu Hoạch
0903936342
5
Anh Quang
Chính quyền

Viện Công Nghệ Sau Thu Hoạch
8481316
6
Võ Mai
Chính quyền
Chủ Tịch
Hiệp Hội Trái Cây Việt Nam
0903739662
7
Nguyễn Quốc Toản
Chính quyền
Chủ Nhiệm
Hợp Tác Xã Tân Phú Trung
8922569
8
Nguyễn Hoàng
Thương lái

Ấp Đình, xã Tân Phú Trung, Củ Chi
8922580
9
Nguyễn Quốc Toản
Thương lái

Tân Phú Trung, Củ Chi
0908218501
10
Lương Việt Thắng
Bán sỉ
Giám Đốc
Công Ty rau quả Thành Phố Hồ Chí Minh
9141541
11
Trần Vinh Quang
Bán sỉ
Trưởng Phòng Đầu Tư & PT Kinh Doanh
Công Ty rau quả Thành Phố Hồ Chí Minh
0903948043
12
Minh Hoàng

Trưởng phòng kế hoạch
Công ty Cofidec (Costal Fisheries Development Corporation Ho Chi Minh City – Viet nam),
8480780
13
Vũ Thị Thúy
Bán lẻ

Ấp Đình, Củ Chi
7960297
14
Nguyễn Thị Thơm
Bán lẻ

Ấp Đình, Củ Chi

15
Kim Linh
Bán lẻ

45 Phan Chu Trinh, chợ Bến Thành
8246157
16
Trần Thị Kim Dung
Bán lẻ

365 Phạm Văn Chí, Q6
9670268
17
Nguyễn Thị Nguyệt
Bán lẻ

Ấp Đình, Củ Chi

18
Võ Thị Ngọc Diệu
Siêu thị

Siêu thị Maximart 3/2
0908548249
19
Chị Định
Siêu thị

Coopmart Thắng Lợi
0903645471
20
Nguyễn Minh Tuấn
Siêu thị

Cora An Lạc
8770684
21
Phan Thị Nhuần
Người tiêu dùng

Ấp Đình, Củ Chi

22
Nguyễn Thị Đệ
Người tiêu dùng

Ấp Đình, Củ Chi
7960302
23
Nguyễn Thị Hương
Người tiêu dùng

Ấp Đình, Củ Chi
8922116
24
Đỗ Thị Minh
Người tiêu dùng

Ấp Đình, Củ Chi
8922736
25
Nguyễn Thị Kim Mai
Người tiêu dùng

Ấp Đình, Củ Chi
8922906
26
Vũ Thông
Nông dân

Ấp Đình, Củ Chi
7960297
27
Nguyễn Trọng Trường
Nông dân

Ấp Đình, Củ Chi
7961682
28
Nguyễn Đăng Cường
Nông dân

Ấp Đình, Củ Chi

29
Đỗ Thị Truyền
Nông dân

Ấp Đình, Củ Chi
7960981
30
Bùi Thị Quyên
Nông dân

Ấp Đình, Củ Chi

31
Phạm Văn Hồng
Nông dân

Cây Đa, Củ Chi
8922792
32
Phạm Văn Dũng
Nông dân

Cây Đa, Củ Chi

33
Nguyễn Phát
Nông dân

Cây Đa, Củ Chi
7960302
34
Phạm Thị Thanh Diệu
Nông dân

Bến Đò, Củ Chi

35
Trần Thị Phú
Nông dân

Bến Đò, Củ Chi



Phụ lục 10: Tp.HCM - Tài liệu tham khảo
Stt
Tên bài viết
Nguồn
Ngày
1
Áp Dụng Cơ Giới Hóa trong Sản Xuất Rau An Toàn
Báo Sài Gòn Giải Phóng
26-07-05
2
Rau an toàn – vẫn còn nỗi lo

3
Số liệu của Cục Thống Kê Thành Phố Hồ Chí Minh

4
Thực Hiện Kế Hoạch Sản Xuất Nông Lâm Ngư Diêm Nghiệp năm 2002 và KH 2003
Số liệu lấy từ Trung Tâm lưu trữ của báo Sài Gòn Times

5
Sản xuất rau an toàn dạng công nghiệp
Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

6
Diện tích, dân số, địa lí, khí hậu của thành phố Hồ Chí Minh
                                                                              


7
Báo Cáo Tình Hình Sản Xuất Rau An Toàn Ở thành Phố Hồ Chí Minh
Sở NN & PTNT Tp.HCM
2005
8
Qui Định Tạm thời Về Sản xuất rau An Toàn (ban hành theo quyết định số 67 – 1998/QĐ – BNN- KHCN ngày 28 – 4-1998)
Bộ NN & PTNT

9
Hợp Đồng Cung Cấp Giữa Công Ty TNHH Metro Cash & Carry Việt Nam và Hợp tác Xã sản xuất rau an toàn Tân Phú TRung
Hợp tác Xã sản xuất rau an toàn Tân Phú Trung,
12-04-04
10
Hợp Đồng Cung Cấp Rau Quả -  Thực Phẩm giữa Công Ty Rau Quả thành Phố (Saigon Vegfruco) và Trung Tâm Giao Dịch Doanh Nghiệp Bình Triệu.
Công Ty Rau Quả thành Phố (Saigon Vegfruco)
11-04-05
11
Báo Cáo Sơ Kết thực Hiện Chương Trình Phát Triển Rau An Toàn từ năm 2001 đến năm 2003
Sở NN & PTNT Tp.HCM
2003
12
Sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở Thành phố Hồ Chí minh
Kỉ yếu hội thảo khoa học sản xuất và chế biến thực phẩm sạch
2003
13
Điều tra tình hình sản xuất và phân phối rau an toàn tại Hóc Môn và củ Chi thành phố hồ Chí Minh.
Kỉ yếu hội thảo khoa học sản xuất và chế biến thực phẩm sạch
2003
14
Rau sạch lại kém sạch nhất


Phụ lục 11: Hình ảnh Chuỗi Giá Trị Thành Phố HCM
Rau an toàn Hồ Chí Minh
1. Rau ăn lá: Mồng tơi
2. Rau ăn quả
3. Nấm Hóc Môn
Trồng trọt & Thu hoạch
4. Nhà lưới trồng rau sạch
5. Nhà trồng nấm an toàn
 6. Thu hoạch rau Cải
Sơ chế, phân loại
7. Nông dân sơ chế tại vườn
8. Sơ chế tại HTX
9. Sơ chế tại điểm bán lẻ

Đóng gói, dán nhãn
10. Nhãn rau HTX Tân Phú Trung
11. Đóng gói tại HTX để chuyên chở đi các điểm khác

12. Đóng gói (rau các loại)
Tồn trữ

13. Tồn trữ rau  tại điểm thu gom Tân Phú Trung
14. Bảo quản lạnh tại siêu thị
15. Tồn trữ khoai tây tại Hóc Môn
Vận chuyển
16. Vận chuyển từ nông dân đến điểm thu gom (xe honda)
17. Vận chuyển tới điểm thu gom (xe ba gác)
18. Vận chuyển cho khách hàng (bằng xe tải thường)

Các điểm thu gom

19. Hợp tác xã Tân Phú Trung
20. Điểm thu gom trong HTX
21. Điểm thu gom
Các điểm buôn bán rau an toàn
22. Điểm bán sỉ/lẻ
23. Điểm bán lẻ của Cty Sao Việt
 24. Điểm bán lẻ tại ch
Chế biến

25. Điểm chế biến rau đông lạnh

26. Sản phẩm chế biến (đậu cô ve sấy)
27. Sản phẩm chế biến (bí đỏ sấy)
PHỤ LỤC 12: DANH SÁCH CÁC CƠ SỞ CÔNG BỐ CHẤT LƯỢNG RAU AN TOÀN/ CÔNG TY CHẾ BIẾN RAU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HCM.
STT
Doanh nghiệp
Địa chỉ
Điện thoại
1
Công ty Hợp doanh sinh hoc- Nông lâm Sinh Thành
17/14 KP 3, P.Hiệp Bình Phước, Q.Thủ Đức
8969431
2
Công ty Rau quả Tp.HCM
50-52 Nguyễn Thái Học, Q.1
9141372
3
Công ty TNHH SX-TM-DV Bảo Long 2000
143/18 Xô Viết Nghệ Tĩnh, P.25, Q.BT
5113156
4
Công ty SX-KD thực phẩm an toàn Ngọc Liên Giang
14 Tái Thiết, P.11, Q.Tân Bình
9713040
5
Công ty Trang Trại
16/2/1 Đặng Văn Ngữ, P.10, Q.PN
8442900
6
Hợp tác xã Thương mại Thuận Toàn
I 15 Cư xá Tân Sơn Nhì, P.14, Q.TB
8496218
7
Trung tâm Sao Việt – Công ty dich vụ Bảo vệ thực vật An Giang
174 Trần Hưng Đạo, P.Nguyễn Cư Trinh, Q.1
8379445
8
Cơ sở Hưng Phát
90A/17A Âu Dương Lân , P.6, Q.8
8517489
9
Công ty TNHH TM-DV Hoàng Giang
269 Khánh Hội, P.5, Q.4
8264889
10
Công ty TNHH Rau quả Đặng Nguyên
D4 Ung Văn Khiêm, P.25, Q.BT
5150243
11
Hợp tác xã Nông nghiệp – DV – Phục vu công ty Hiệp Thành
82A/1 Nguyễn Ảnh Thủ, KP.2, P. Hiệp Thành, Q.12
7170131
12
Công ty TNHH Giao nhận Ba Rôm
6 B Đường Đồng Nai, P.2, Q.TB
9080387
13
Công ty IMEXCO – Xì nghiệp nông sản thực phẩm XK – Xưởng cung ứng rau quả Vegefoods
220 Nguyễn Biểu, Q.5
9235420
14
Công ty TNHH An Thịnh Phát
100/14 Trần Hưng Đạo, P.Phạm Ngũ Lão, Q.1
8369143-9203410
15
Công ty TNHH TM-SX Triều Dương
653/2 Lò Gốm, P.9, Q.6
7508825
16
Công ty TNHH Kinh doanh rau quả thực phẩm VF
4/4 Quang Trung, P.10, Q.Gò Vấp

17
Công ty TNHH chế biến thủy hải sản Kim Khánh
D3/7/1 Khu dân cư Tân Tạo, P.Tân Tạo, Q.Bình Tân
7507182
18
DNTN Vinh Trang
29/33 Phan Đình Phùng, P.17, Q.Tân Bình
4086044
19
Công ty TNHH Bách Sơn
E3A7 Sông Thao, P.2, Q.TBình
8155174
20
Công ty TNHH Tân Trang Trại
744/13 Nguyễn Kiệm, P.4, Q.PN
8477892
21
Công ty TNHH SX&KD thực phẩm Tân Bảo Lộc
20/304B Phan Huy Ích, P.12, Q.Gò Vấp
4364857
22
Công ty TNHH Mầm Xanh
B43 CC 239 CMT8, P.4, Q.3
8341186
23
Cơ sở Hạnh Dung
53 Đường số 4, P.4, Q.4
9411040
24
Công ty TNHH SX-TM-DV Hùng Sương
33/10B Phạm Văn Chiêu, P.12, Q.GV
4364931
25
Công ty TNHH Chân Thành
75/30A KP4, Tổ 65, P.Bình Hưng Hòa, Q.Bình Tân
9716928
26
Công ty TNHH Tân Thiên Hà
1/21 Nguyễn Súy, P.Tân Quí, Q.Tân Phú
4081200
27
Công ty TNHH Kim Xuân Quang
305/2 Tô Ngọc Vân, P.Thanh Xuân, Q.12
7160669
28
Công ty Lusun Việt nam
4/5, hương Lộ 80B, Ấp Đông, x Thới tam Thơn, huyện Hóc Môn
7179168
29
Công ty phát triển kinh tế duyên hải Cofidec
30 Đặng Tất, Quận 1, HCM
8480780
30
Công ty XNK AGRIMEXCO

176 Hai Bà Trưng, Quận 1
8244518
31
Công ty CP thực phẩm XK Tân Bình
1/1 Trường Chinh – Tân Bình
8497166
32
Công ty TNHH TM Rau Quả Thực Phẩm Mai Xun

219 Ngô Quyền - P6 –Q10, TpHồ Chí Minh -8916149

8916149
33
Doanh nghiệp tư nhân VINA PHÁT

58 – Trương Đình Hội – P16, Q8, Tp HCM

 848 – 8767687


 Nguồn : www.sme-gtz.org.vn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét